Mức xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng rượu, bia gây mất trật tự công cộng?

* Bạn đọc Huỳnh Thanh Sang ở xã Phú Lâm, tỉnh An Giang, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, mức xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng?

Trả lời: Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ, hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng bị xử phạt hành chính từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, ngoài ra còn bị tịch thu tang vật vi phạm. Mức xử phạt hành chính trên cũng áp dụng với các hành vi sau tại khoản 2 nêu trên:

b) Tổ chức, tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

c) Để động vật nuôi gây thương tích hoặc gây thiệt hại tài sản cho tổ chức, cá nhân khác;

d) Thả diều, bóng bay, các loại đồ chơi có thể bay ở khu vực cấm, khu vực mục tiêu được bảo vệ;

đ) Sử dụng tàu bay không người lái hoặc phương tiện bay siêu nhẹ chưa được đăng ký cấp phép bay hoặc tổ chức các hoạt động bay khi chưa có giấy phép hoặc đã đăng ký nhưng điều khiển bay không đúng thời gian, địa điểm, khu vực, tọa độ, giới hạn cho phép;

e) Cản trở, sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở chợ, bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác;

g) Đốt và thả “đèn trời”;

h) Không có đủ hồ sơ, tài liệu mang theo khi khai thác tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ;

i) Tổ chức các hoạt động bay của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ khi người trực tiếp khai thác, sử dụng chưa đáp ứng các tiêu chuẩn đủ điều kiện bay;

k) Tổ chức các hoạt động bay của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ khi phương tiện bay chưa đáp ứng các tiêu chuẩn đủ điều kiện bay;

l) Phun sơn, viết, vẽ, dán, gắn hình ảnh, nội dung lên tường, cột điện hoặc các vị trí khác tại khu vực dân cư, nơi công cộng, khu chung cư, nơi ở của công dân hoặc các công trình khác mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền.

* Bạn đọc Rmah Hlú ở xã Ia Pa, tỉnh Gia Lai, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, những trường hợp nào được Nhà nước hỗ trợ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia?

Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật Việc làm năm 2025. Cụ thể như sau:

Nhà nước hỗ trợ người lao động thuộc các đối tượng sau đây khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia:

a) Người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng;

b) Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo;

c) Người khuyết tật;

d) Người cao tuổi;

đ) Người dân tộc thiểu số;

e) Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

g) Thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội;

h) Trí thức trẻ tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác tại khu kinh tế-quốc phòng;

i) Đối tượng khác do Chính phủ quyết định, căn cứ tình hình kinh tế-xã hội.

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/ban-doc/thu-ban-doc/muc-xu-phat-hanh-chinh-doi-voi-hanh-vi-su-dung-ruou-bia-gay-mat-trat-tu-cong-cong-1026093