Muốn du lịch Việt Nam vươn tầm, phải nâng chuẩn nguồn nhân lực
Hơn 180 tham luận gửi tới hội thảo khoa học quốc tế tại Gia Lai cho thấy đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành yêu cầu cấp thiết của du lịch Việt Nam. Bài toán không chỉ là đào tạo đủ người mà phải hình thành đội ngũ đạt chuẩn quốc tế, thích ứng chuyển đổi số và đủ năng lực nâng sức cạnh tranh của toàn ngành.
Đào tạo nhân lực phải đi trước một bước
Ngày 28/8, tại tỉnh Gia Lai, gần 120 đại biểu từ cơ quan quản lý, hiệp hội nghề nghiệp, giới khoa học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế tham dự Hội thảo “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao theo chuẩn quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Ông Hà Văn Siêu - Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo.
Hội thảo do Liên Chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam và Trường Đại học Hùng Vương TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức, với sự tham gia của các đơn vị tại tỉnh Gia Lai và Tổ chức giáo dục Thụy Sĩ Swiss Edu Hub. Hơn 180 tham luận từ các trường đại học, học viện, cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp trên cả nước phản ánh sự quan tâm rộng rãi đối với bài toán chuẩn hóa nguồn nhân lực.
Phát biểu tại hội thảo, ông Hà Văn Siêu - Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam - cho biết ngành đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng, tính chuyên nghiệp, xanh, thông minh và sức cạnh tranh quốc tế. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đã đặt mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp.
Theo ông Hà Văn Siêu, chất lượng du lịch trước hết được tạo nên bởi chất lượng con người. Hạ tầng, công nghệ và sản phẩm có thể được đầu tư hiện đại, nhưng người lao động mới trực tiếp tạo ra trải nghiệm và giá trị gia tăng cho du khách. Trong kỷ nguyên mới, đội ngũ du lịch không chỉ biết làm nghề mà còn phải có khả năng thích ứng, đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và phát triển du lịch hài hòa với thiên nhiên, di sản, văn hóa.
Từ yêu cầu đó, công tác đào tạo phải đổi mới và đi trước một bước. Thực tiễn cần trở thành một phần của chương trình, doanh nghiệp phải là môi trường thực hành và học tập phải được duy trì suốt đời. Đào tạo cần chuyển từ chương trình sang phát triển năng lực, từ truyền đạt kiến thức sang rèn kỹ năng, từ đào tạo một lần sang thường xuyên đào tạo lại, nâng cao kỹ năng theo nhu cầu của thị trường lao động.

Ông Hà Văn Siêu - Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tặng hoa cảm ơn các cơ quan, đơn vị tổ chức hội thảo.
Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ mô phỏng nghề, học ngoại ngữ, phân tích dữ liệu và cá nhân hóa việc học, nhưng không thể thay thế lòng hiếu khách và sự đồng cảm. Để tạo dựng đội ngũ đáp ứng yêu cầu mới, ông Hà Văn Siêu đề nghị hình thành hệ sinh thái đào tạo gồm nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và hiệp hội. Người làm du lịch Việt Nam phải chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế nhưng mang bản sắc Việt Nam, thành thạo công nghệ nhưng giàu cảm xúc, năng động, sáng tạo nhưng tận tâm, nhân văn.
Đào tạo phải gắn với bản sắc và nhu cầu của từng điểm đến
Ở góc độ địa phương đăng cai hội thảo, ông Nguyễn Văn Ý - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai - cho rằng Năm du lịch quốc gia 2026 là cơ hội quảng bá các giá trị thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, đồng thời giới thiệu không gian du lịch kết nối biển với đại ngàn tới du khách trong nước và quốc tế.

Ông Nguyễn Văn Ý - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai phát biểu tại hội thảo.
Để cơ hội này tạo ra hiệu quả lâu dài, theo ông Nguyễn Văn Ý, địa phương cần đồng thời đầu tư hạ tầng, phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và nguồn nhân lực. Đây cũng là yêu cầu chung đối với các điểm đến. Người lao động du lịch cần có chuyên môn, ngoại ngữ, năng lực số, tư duy sáng tạo và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa.
Với địa bàn giàu tài nguyên văn hóa như Gia Lai, người làm du lịch còn phải hiểu và biết chuyển tải giá trị bản địa tới du khách. Đây cũng là yêu cầu của mọi điểm đến. Di sản, cảnh quan, ẩm thực và bản sắc cộng đồng chỉ trở thành sản phẩm cạnh tranh khi được khai thác, kể lại hấp dẫn nhưng vẫn chân thực. Trong du lịch cộng đồng, người dân chính là chủ thể tạo nên hình ảnh điểm đến.
Ông Nguyễn Văn Ý kỳ vọng hội thảo gợi mở mô hình đào tạo tiên tiến, tăng cường liên kết giữa nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời tạo ra giải pháp có thể vận dụng tại từng địa phương. Với Gia Lai, mục tiêu không chỉ phục vụ Năm du lịch quốc gia 2026 mà còn xây dựng nền tảng nhân lực để vận hành sản phẩm, quản lý điểm đến và phát triển bền vững.

GS.TS Đào Mạnh Hùng – Chủ tịch Liên Chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam trình bày phát biểu đề dẫn.
Trong khuôn khổ hội thảo, 6 tham luận được trình bày cùng 2 phiên thảo luận, tập trung vào những vấn đề đặt ra trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch. Nội dung trải rộng từ giáo dục di sản, xây dựng hệ sinh thái đào tạo số, xanh gắn với địa phương đến mô hình liên kết “ba nhà” giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.
Các tham luận còn đề cập thách thức của du lịch cộng đồng bền vững; khung năng lực cho nhân lực du lịch sáng tạo trong kỷ nguyên số; và đào tạo đội ngũ khai thác bền vững di sản bài chòi theo mô hình quốc tế. Dù xuất phát từ những địa bàn khác nhau, các nghiên cứu đều đặt đào tạo trong quan hệ trực tiếp với sản phẩm, di sản, cộng đồng và thị trường.

Ông John A. Daly - Giám đốc Học thuật khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tổ chức giáo dục Thụy Sĩ Swiss Edu Hub chia sẻ tham luận trực tuyến.
Hai phiên thảo luận quy tụ đại diện trường đại học, cao đẳng, học viện và doanh nghiệp ở nhiều địa phương, nhằm nhận diện khoảng cách giữa chương trình đào tạo với nhu cầu lao động. Các ý kiến tập trung vào năng lực số, ngoại ngữ, kỹ năng thực hành, cơ chế phối hợp doanh nghiệp và bồi dưỡng lực lượng làm du lịch tại cộng đồng.
Qua 6 tham luận và 2 phiên thảo luận, hội thảo đã mở ra nhiều vấn đề cần tiếp tục làm rõ, từ chuẩn đào tạo, vai trò của doanh nghiệp đến cách đưa tri thức vào thực tiễn nghề nghiệp. Chỉ khi những khoảng cách này được thu hẹp, nguồn nhân lực mới thực sự trở thành động lực nâng sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam.



