Nâng cao trách nhiệm quản lý và cấp mã số vùng trồng, giữ 'cửa' xuất khẩu nông sản

Mã số vùng trồng không chỉ là điều kiện để nông sản tiếp cận thị trường, mà còn đặt ra yêu cầu quản lý, duy trì nghiêm ngặt.

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu truy xuất nguồn gốc, các địa phương tập trung quản lý, duy trì mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sau cấp mã, gắn với chất lượng nông sản, truy xuất nguồn gốc,… là việc làm cần thiết để đáp ứng thị trường xuất khẩu.

Chia sẻ tại Tọa đàm Quản lý, duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói - Giải pháp nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản mới đây, ông Hoàng Tuấn Phương, Trưởng phòng Khuyến nông, Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cho rằng mã số vùng trồng chỉ phát huy giá trị khi gắn với sản phẩm, vùng nguyên liệu, đơn vị tổ chức sản xuất, cơ sở đóng gói, doanh nghiệp tiêu thụ và yêu cầu của từng thị trường.

Sầu riêng được gắn mã số theo quy định trước khi cung cấp ra thị trường.

Sầu riêng được gắn mã số theo quy định trước khi cung cấp ra thị trường.

Theo ông Phương, mã số không phải là đích đến mà là công cụ để tổ chức sản xuất minh bạch, có trách nhiệm với thị trường. Vì vậy, hệ thống khuyến nông cần hỗ trợ kết nối các chủ thể, thống nhất yêu cầu kỹ thuật, cách ghi chép và kiểm tra nội bộ, qua đó hình thành vùng nguyên liệu ổn định, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Đối với Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên, nơi có nhiều vùng sản xuất nông sản xuất khẩu như cà phê, sầu riêng, rau, hoa, ông Phương cho rằng cần đánh giá lại công tác quản lý, duy trì mã số, nhất là sau khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp.

Ông Nguyễn Văn Chương, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng, cũng nhấn mạnh việc cấp mã số mới chỉ là bước đầu, trong khi quản lý và duy trì mã số đúng quy định mới là vấn đề quan trọng.

Theo ông Chương, việc tuân thủ quy trình sản xuất, kiểm soát dư lượng, ngăn ngừa nguy cơ mạo danh hoặc sử dụng không đúng mã số vẫn còn những khó khăn nhất định. Trong khi đó, việc cập nhật, quản lý dữ liệu vùng trồng và cơ sở đóng gói ở một số nơi chưa đồng bộ.

“Cần đẩy mạnh chuyển đổi số, cập nhật cơ sở dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói; làm rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, nhất là cấp xã và lực lượng khuyến nông cộng đồng; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất”, ông Chương nói.

Thực tế tại các vùng sản xuất tập trung cho thấy mã số vùng trồng đang tác động trực tiếp đến phương thức tổ chức sản xuất.

Tại xã Đạ Tẻh, một trong những vùng sản xuất sầu riêng trọng điểm phía Nam của tỉnh Lâm Đồng, diện tích sầu riêng hiện hơn 1.000 ha, trong đó hơn 500 ha đang cho thu hoạch. Địa phương có khoảng 250 ha sầu riêng đạt chứng nhận VietGAP và được cấp 10 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 200 ha phục vụ xuất khẩu, chủ yếu sang Trung Quốc.

Ông Cao Tấn Mãnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc HTX Sầu riêng Hương Thanh, cho biết HTX có 51 thành viên liên kết sản xuất khoảng 120 ha sầu riêng Dona, gần một nửa diện tích được canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP. Khoảng 60% diện tích đang cho thu hoạch, năng suất bình quân khoảng 15 tấn/ha.

Từ năm 2024, HTX được cấp mã số vùng trồng. Sản phẩm sau thu hoạch được doanh nghiệp liên kết bao tiêu, phục vụ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Theo ông Mãnh, việc cấp và duy trì mã số, chuẩn hóa quy trình canh tác và minh bạch thông tin sản xuất giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành hàng sầu riêng. Đây cũng là cơ sở để HTX, người dân nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, xây dựng uy tín vùng sản xuất và ổn định đầu ra.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Hoàng Linh, Giám đốc vùng trồng, Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Hưng Sơn (Gia Lai), cho biết từ diện tích ban đầu khoảng 100 ha, đến nay Công ty đã mở rộng vùng nguyên liệu lên khoảng 400 ha chuối xuất khẩu đạt tiêu chuẩn.

Mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để nông sản tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để nông sản tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Cùng với mở rộng diện tích, doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống quản lý vùng trồng và cơ sở đóng gói. Hiện, toàn bộ vùng nguyên liệu đã được đăng ký và cấp 7 mã số vùng trồng, đồng thời Công ty được cấp 3 mã số cơ sở đóng gói.

“Quá trình từ 100 ha lên 400 ha không đơn thuần là mở rộng diện tích. Điều quan trọng hơn là mở rộng nhưng vẫn duy trì được tính đồng bộ của quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu”, ông Linh chia sẻ.

Cũng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, ông Lê Văn Thanh, Giám đốc HTX Sản xuất, Thương mại, Dịch vụ, Du lịch nông nghiệp Ia Mơ Nông, cho biết HTX có 600 thành viên và hộ dân liên kết với khoảng 800 ha chanh leo, sầu riêng và cà phê. HTX đã được cấp 6 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Thông qua liên kết với doanh nghiệp có nhà máy chế biến, xuất khẩu, HTX tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, góp phần tạo đầu ra ổn định cho thành viên.

Tuy nhiên, theo ông Thanh, xây dựng mã số vùng trồng là quá trình đòi hỏi sự nỗ lực của cả HTX và người dân, trong khi duy trì mã số còn yêu cầu cao hơn về kiểm soát chất lượng, tuân thủ quy trình sản xuất và hồ sơ truy xuất.

“Chỉ cần xảy ra vi phạm về dư lượng hoặc hồ sơ không bảo đảm, mã số có thể bị cảnh báo, thậm chí thu hồi, ảnh hưởng đến đầu ra và đơn hàng của cả vùng”, ông Thanh cho biết.

Do đó, HTX xác định duy trì mã số và kiểm soát chất lượng là công việc thường xuyên, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa HTX, người dân và doanh nghiệp, không thể thực hiện theo thời điểm.

Từ những thực tế của các địa phương, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng xây dựng mã số vùng trồng mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là quản lý, duy trì mã số và đưa các yêu cầu vào thực tế sản xuất.

Để làm được điều này, cần tập trung vào hai yếu tố là con người và công nghệ số. Các chủ thể phải nâng cao năng lực, làm chủ công nghệ, đồng thời nắm vững các chủ trương, chính sách liên quan đến mã số vùng trồng.

Hệ thống khuyến nông cũng cần được tăng cường năng lực trong xây dựng, quản lý mã số và hỗ trợ người dân nâng cao năng lực sản xuất. Bởi để sản phẩm có giá trị và bán được với giá tốt, chính người sản xuất phải tạo ra giá trị và bảo đảm chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu.

“Chúng tôi mong muốn HTX, cơ quan quản lý và người dân xác định rõ trách nhiệm của mình, cùng nỗ lực hạn chế rủi ro, tìm những giải pháp thiết thực để quản lý tốt mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói”, ông Thanh chia sẻ.

Hồng Hương

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/nang-cao-trach-nhiem-quan-ly-va-cap-ma-so-vung-trong-giu-cua-xuat-khau-nong-san.html