Nâng chất tín dụng, tạo đà tăng trưởng bền vững

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra cho giai đoạn 2026-2030, tín dụng tiếp tục đóng vai trò động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng chỉ phát huy hiệu quả khi dòng vốn được dẫn dắt đúng vào khu vực sản xuất, kinh doanh, tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và nền tảng tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn. Ảnh: ST

Tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn. Ảnh: ST

Tăng trưởng tín dụng và thách thức đối với an toàn hệ thống

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư lớn hơn đáng kể và có chất lượng cao hơn so với giai đoạn trước. Theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2031 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng; riêng năm 2026 khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn tín dụng dự kiến khoảng 1,8 triệu tỷ đồng.

Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng tiếp tục giữ vai trò “huyết mạch” của nền kinh tế, đảm nhiệm chức năng huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Nhờ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đến cuối tháng 4/2026, dư nợ tín dụng đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm 2025, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cũng kéo theo nhiều rủi ro và thách thức đối với an toàn của hệ thống tài chính - tiền tệ nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Một chỉ số từng được giới phân tích nhiều lần cảnh báo là tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức khoảng 146%, thuộc nhóm cao so với các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.

Theo Công ty cổ phần FiinGroup, nếu tỷ lệ tín dụng/GDP tiếp tục gia tăng, mức độ đòn bẩy của nền kinh tế có thể vượt ngưỡng an toàn đối với một nền kinh tế mới nổi, qua đó làm gia tăng rủi ro đối với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, hệ số an toàn vốn của nhiều ngân hàng hiện ở mức khá thấp và tiệm cận ngưỡng tối thiểu theo quy định, làm hạn chế dư địa mở rộng tín dụng nếu các ngân hàng không kịp thời bổ sung vốn tự có.

Bên cạnh áp lực về vốn, rủi ro kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng cũng ngày càng rõ nét. Hiện hơn 90% nguồn tiền gửi là ngắn hạn, trong khi cho vay trung và dài hạn vẫn chiếm khoảng 42-47% tổng dư nợ. Điều này cho thấy các ngân hàng vẫn đang đóng vai trò cung ứng vốn dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, dù cơ cấu nguồn vốn chưa thực sự tương thích.

Sự mất cân đối này tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống. Theo FiinGroup, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn của toàn hệ thống hiện ở mức 28,32%, tiệm cận ngưỡng trần 30% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Điều này đồng nghĩa dư địa mở rộng tín dụng trung và dài hạn của các tổ chức tín dụng đang dần thu hẹp.

Một áp lực khác đến từ sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn. Từ quý IV/2025 đến giữa tháng 3/2026, tốc độ tăng trưởng huy động vốn liên tục thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, gây áp lực lên thanh khoản và làm gia tăng khó khăn trong việc tạo lập nguồn vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Dự thảo sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR). Đề xuất này của NHNN sẽ tạo thêm dư địa thanh khoản cho các ngân hàng, hỗ trợ đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và góp phần ổn định thị trường tiền tệ.

Gỡ khó cho hoạt động tín dụng

Trước những áp lực ngày càng lớn đối với an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng tín dụng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà còn phải nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn.

Theo PGS,TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng, tăng trưởng tín dụng không đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế có chất lượng nếu dòng vốn bị phân bổ sai mục đích hoặc chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, việc định hướng tín dụng vào các ngành có năng suất lao động cao, khả năng tạo giá trị gia tăng lớn và đóng vai trò động lực tăng trưởng cần được ưu tiên trong giai đoạn tới.

Để dòng vốn thực sự chuyển hóa thành động lực tăng trưởng bền vững, PGS,TS. Phạm Thị Hoàng Anh nhấn mạnh vai trò chủ động của doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực tài chính và khả năng hấp thụ vốn. Doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ một chiều mà phải chứng minh được hiệu quả sử dụng vốn. Song song với đó, các ngân hàng thương mại cần tiếp tục cải thiện năng lực quản trị rủi ro và chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới.

PGS,TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam - cũng cho rằng, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp không nhất thiết phải đi kèm với việc liên tục gia tăng tín dụng hay nới lỏng điều kiện cho vay. Theo ông, nếu doanh nghiệp được hỗ trợ tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn thì ngay cả khi quy mô dư nợ không tăng, nền kinh tế vẫn có thể tạo ra giá trị tương đương với việc mở rộng tín dụng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn mà còn góp phần hỗ trợ các ngân hàng kiểm soát nợ xấu và hạn chế rủi ro tín dụng.

Một trong những giải pháp đáng chú ý được NHNN triển khai là thí điểm mô hình cho vay ngang hàng. Theo các chuyên gia, công nghệ và quản trị rủi ro sẽ là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của mô hình này. Nếu được triển khai bài bản, dòng vốn có thể được kết nối trực tiếp trong cộng đồng, góp phần giảm áp lực huy động vốn cho hệ thống ngân hàng, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.

Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN - bà Phạm Thị Thanh Tùng - cho biết, trong thời gian tới, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tín dụng theo hướng tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; các lĩnh vực ưu tiên; các động lực tăng trưởng kinh tế và các dự án trọng điểm có tính khả thi cao.

Cùng với đó, NHNN sẽ tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng; triển khai hiệu quả các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển tam nông, khoa học công nghệ, kinh tế tư nhân, giáo dục, năng lượng và các chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng thời, ngành ngân hàng sẽ tăng cường theo dõi, đánh giá diễn biến tín dụng theo từng ngành, lĩnh vực; kịp thời phối hợp với các Bộ, ngành để tháo gỡ khó khăn phát sinh, bảo đảm dòng vốn tín dụng được vận hành an toàn, hiệu quả và hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế bền vững./.

THÀNH ĐỨC

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/bai-viet/nang-chat-tin-dung-tao-da-tang-truong-ben-vung