Nâng tầm đặc sản vùng cao để chinh phục thị trường quốc tế

Những sản vật gắn liền với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, để chuyển hóa từ lợi thế bản địa thành thương hiệu quốc tế, các doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ cần sản phẩm ngon, mà phải chuẩn hóa quy trình, thay đổi tư duy sản xuất và tận dụng hiệu quả các chính sách bệ phóng...

Nhiều đặc sản từ các địa phương miền núi đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu - Ảnh: Vũ Khuê.

Nhiều đặc sản từ các địa phương miền núi đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu - Ảnh: Vũ Khuê.

Lợi thế bản địa hoàn toàn có thể trở thành cơ hội xuất khẩu khi được gắn với tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường. Tuy nhiên, từ một đơn hàng xuất khẩu đến việc duy trì sự hiện diện và xây dựng thương hiệu bền vững tại thị trường nước ngoài vẫn là một hành trình dài đầy thử thách.

NHỮNG “TẤM HỘ CHIẾU” BƯỚC RA BIỂN LỚN

Một trong những câu chuyện thành công tiêu biểu là sản phẩm miến dong của Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan (tỉnh Thái Nguyên). Từ cây dong riềng vốn gắn bó lâu đời với đời sống đồng bào Tày, Nùng, hợp tác xã đã tổ chức lại sản xuất, ứng dụng công nghệ, kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu chất lượng và hoàn thiện bao bì.

Tại toạ đàm “Đưa đặc sản vùng cao vươn ra thế giới - Từ lợi thế bản địa đến thương hiệu quốc tế”, bà Trần Minh Anh, đại diện Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan nhấn mạnh muốn bước vào thị trường lớn thì phải thay đổi cách tổ chức sản xuất nhưng không được đánh mất giá trị truyền thống.

“Chúng tôi bắt đầu từ việc xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết với 700 hộ dân trên quy mô 70 ha, hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm; đồng thời đầu tư nhà xưởng, máy móc, kiểm soát quy trình từ củ dong riềng đến tinh bột, tráng miến, sấy và đóng gói”, bà Minh Anh chia sẻ.

Bước ngoặt lớn đến với Tài Hoan khi sản phẩm được Sở Công Thương hỗ trợ mang sang Cộng hòa Séc trưng bày. Nhờ chất lượng vượt trội, lô hàng đầu tiên 5,3 tấn đã chính thức xuất khẩu sang Séc. Tính đến nay, Hợp tác xã đã xuất khẩu tổng cộng hơn 40 tấn miến dong sang các thị trường khó tính như Cộng hòa Séc, Mỹ, Australia và Hàn Quốc, đồng thời xúc tiến mở rộng sang Đức và Nhật Bản.

Các diễn giả chia sẻ tại toạ đàm - Ảnh: TCCT.

Các diễn giả chia sẻ tại toạ đàm - Ảnh: TCCT.

Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng là một nỗ lực không ngừng nghỉ. Bà Minh Anh trải lòng: "Để có được một lô hàng xuất khẩu, chúng tôi phải mất hơn một năm gửi mẫu kiểm nghiệm, kiểm tra dư lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và làm các thủ tục xuất nhập khẩu. Yếu tố quyết định thành công không chỉ là sản phẩm ngon, mà là khả năng biến chất lượng truyền thống thành một quy trình sản xuất có thể kiểm soát và chứng minh được. Việc chứng nhận OCOP 5 sao quốc gia cùng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khắt khe đã trở thành những “tấm hộ chiếu” uy tín giúp miến dong Tài Hoan chinh phục đối tác ngoại".

Tương tự, Công ty TNHH Ba Ka tại tỉnh Gia Lai cũng ghi dấu ấn với dòng sản phẩm Cà phê Già Làng. Khai thác nguồn cà phê từ vùng đất đỏ bazan quanh núi lửa Chư Đăng Ya của đồng bào Gia Rai, doanh nghiệp đã kết hợp phương pháp rang củi truyền thống với quy trình sản xuất chuẩn hóa. Nhờ đảm bảo an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, các sản phẩm cà phê chế biến sâu của Ba Ka đã đường hoàng xuất khẩu chính ngạch sang Mỹ và Nhật Bản.

THÁO GỠ “NÚT THẮT” CHO ĐẶC SẢN VÙNG CAO

Dù đã có những điển hình thành công, song nhìn tổng thể, bức tranh xuất khẩu nông sản vùng cao vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Phần lớn quy mô sản xuất tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở dạng nhỏ lẻ, chất lượng chưa đồng đều, năng lực chế biến và bảo quản còn hạn chế. Nhiều phương thức sản xuất truyền thống chưa được chuẩn hóa thành quy trình có thể kiểm soát, trong khi các doanh nghiệp, hợp tác xã tại đây thường thiếu vốn, công nghệ và nhân lực chuyên môn.

Bên cạnh đó, các chủ thể sản xuất còn thiếu thông tin thị trường, thiếu kỹ năng phát triển sản phẩm phù hợp với thị hiếu quốc tế, cũng như hạn chế về nguồn lực để quảng bá thương hiệu ra nước ngoài.

Đánh giá về thực trạng và cơ hội tháo gỡ khó khăn này, ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết ngày 6/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 626/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 - 2030” (Chương trình GoGlobal). Chương trình hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bộ Công Thương cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang phối hợp tích cực với các địa phương để đưa GoGlobal đi vào chiều sâu.

Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp.

“Hàn Quốc đã rất thành công với sâm khi chế biến ra hàng loạt sản phẩm từ mỹ phẩm đắp mặt, viên nén, bột sâm đến trà sâm. Trong khi đó, chúng ta chủ yếu vẫn dừng lại ở việc ngâm rượu. Nếu cứ giữ nguyên cách làm cũ thì rất khó bán. Chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm quốc tế, đa dạng hóa chế biến sâu. Bệ phóng từ Quyết định 626/QĐ-TTg sẽ cho chúng ta một hệ sinh thái để chuyển hóa sâm Ngọc Linh từ sản vật bản địa thành ngành hàng trăm triệu, thậm chí tỷ USD”, ông Tiến nhận định.

Để tận dụng hiệu quả chương trình này, ông Tiến nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối các khâu hỗ trợ thành một quy trình xuyên suốt: từ phát triển vùng nguyên liệu, chuẩn hóa sản xuất đến xây dựng thương hiệu và tổ chức phân phối. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp sẽ tạo nên một hệ sinh thái hỗ trợ xuất khẩu thiết thực.

Nhìn lại bài học thành công của nông sản Việt Nam thời gian qua, ông Nguyễn Minh Tiến khẳng định Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin đưa các đặc sản vùng cao vươn xa nếu có cách tiếp cận đúng đắn.

“Chúng ta đã thấy gạo ST25 hai lần được vinh danh ngon nhất thế giới, tạo dựng vị thế vững chắc cho thương hiệu gạo Việt. Hiện nay, chúng ta tiếp tục có các sản phẩm gạo phát thải thấp từ dự án 1 triệu ha lúa - một hướng đi mà thị trường Nhật Bản rất quan tâm. Dự kiến tại hội chợ thế giới Green Expo 2027, những sản phẩm đặc sản này sẽ tiếp tục được giới thiệu ra công chúng quốc tế”, ông Tiến chia sẻ.

Từ câu chuyện của gạo hay sầu riêng, ông Tiến chỉ ra bài học quý giá về tư duy phát triển sản phẩm. Cách đây 5 năm, ít ai nghĩ Việt Nam có thể đạt doanh số xuất khẩu sầu riêng lớn, nhưng hiện nay chúng ta đã chiếm tới 50% thị phần tại Trung Quốc (ngang ngửa Thái Lan) và dự kiến đạt kim ngạch trên 3 tỷ USD. Nhờ đó, nhiều hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số chỉ với 1-2 ha sầu riêng đã có thu nhập cả tỷ đồng mỗi năm, thoát nghèo bền vững.

Một ví dụ khác là chanh dây. Trước đây thế giới chỉ biết đến chanh dây của Ecuador, nhưng nhờ chuyển đổi sản xuất, Việt Nam hiện đã vượt mốc xuất khẩu 200 triệu USD.

Từ những thực tế trên, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp đặt vấn đề về việc thay đổi tiếp cận đối với các đặc sản giá trị cao khác, điển hình như sâm Ngọc Linh tại Tây Nguyên và các tỉnh miền núi.

Vũ Khuê

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/nang-tam-dac-san-vung-cao-de-chinh-phuc-thi-truong-quoc-te.htm