Nâng tầm giá trị ca cao Việt Nam - Bài 1: Tái cấu trúc nông nghiệp xanh Tây Nguyên

Trong nhiều năm, ca cao ở Tây Nguyên tồn tại như một loại cây 'đi kèm', không phải cây chủ lực, cũng chưa từng được xếp vào nhóm ngành hàng chiến lược; mà chỉ là loại cây được trồng xen.

Tại vùng Tây Nguyên hiện có 7 giống ca cao chính đang được canh tác. Ảnh: Kha Phạm - TTXVN

Tại vùng Tây Nguyên hiện có 7 giống ca cao chính đang được canh tác. Ảnh: Kha Phạm - TTXVN

Ca cao ở Việt Nam đến nay vẫn tồn tại ở vị trí khá khiêm tốn. Không phải cây trồng chủ lực, không chiếm diện tích lớn, càng không phải ngành hàng được nhắc đến đầu tiên mỗi khi bàn về chiến lược nông nghiệp nhưng vào thời điểm nông nghiệp vùng Tây Nguyên có sự chuyển dịch về tổ chức sản xuất, hướng về gia tăng giá trị, giảm phát thải trở thành áp lực, cây ca cao lại nổi lên như một lựa chọn chiến lược.

Bài 1: Tái cấu trúc nông nghiệp xanh Tây Nguyên

Trung tâm Khuyến nông quốc gia nhận định sơ bộ, tổng diện tích trồng ca cao của Việt Nam khoảng 3.500 ha, tổng sản lượng nguyên liệu đạt khoảng gần 5.000 tấn/năm; trong đó, vùng Tây Nguyên có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây ca cao (chiếm khoảng 48% diện tích) đang có điều kiện để khẳng định lại ví trí của mình trong hành trình tái cấu trúc nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn.

Lựa chọn của nông nghiệp xanh

Trong nhiều năm, ca cao ở Tây Nguyên tồn tại như một loại cây “đi kèm”, không phải cây chủ lực, cũng chưa từng được xếp vào nhóm ngành hàng chiến lược; mà chỉ là loại cây được trồng xen trong vườn cà phê, vườn tiêu, vườn cây ăn trái. Nhưng trong bối cảnh nông nghiệp vùng Tây Nguyên đang thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng về sản phẩm giá trị cao, yêu cầu giảm phát thải, ca cao đang dần được nhìn nhận bằng một vị thế khác, không phải cây thay thế, mà là cây điều chỉnh cấu trúc sinh thái và giá trị của nông nghiệp vùng.

Gần đây, cả các cơ quan quản lý và các nhà khoa học đều đánh giá ca cao là một trong số rất ít cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái Tây Nguyên theo cả hai tiêu chí, sinh học và thị trường. Có được đánh giá này vì thực tế rất nhiều hộ nông dân, hợp tác xã đã phát triển cây ca cao theo hướng bền vững.

Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Mai, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), đánh giá từ các nghiên cứu khoa học: “Ca cao có lợi thế đặc biệt khi vừa thích nghi tốt với đất bazan, vừa có khả năng tham gia vào phân khúc chocolate chất lượng cao trên thị trường thế giới. Ca cao có biên độ thích nghi rộng, có thể trồng xen dưới tán cây che bóng, phù hợp với mô hình nông – lâm kết hợp. Quan trọng hơn, chất lượng hạt ca cao Việt Nam, nhất là ở Tây Nguyên, hoàn toàn có thể đi vào phân khúc có giá trị cao nhất của ngành hàng chocolate”.

Nhận định này chạm đúng bản chất của câu chuyện ca cao, không phải là cây trồng đại trà để chạy theo sản lượng, mà là cây trồng hướng đến giá trị, chất lượng và tính bền vững.

Ca cao như một giải pháp sinh thái trong cấu trúc nông nghiệp truyền thống, Tây Nguyên từng phát triển theo mô hình “đơn trục” gần như cố định: cà phê – hồ tiêu – cao su. Mô hình này giúp tăng nhanh sản lượng ngành hàng có giá trị xuất khẩu, nhưng cũng kéo theo hệ quả sau thời gian dài, đất suy thoái, nguồn nước cạn kiệt, rủi ro cả về môi trường và thị trường.

Ở tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai, ca cao cũng đang đi theo logic tương tự, không phát triển như cây trồng đại trà, nhưng dần được nhìn nhận như một mảnh ghép sinh thái trong tái cơ cấu nông nghiệp địa phương. Tại Lâm Đồng, ca cao được trồng xen trong các vùng chuyển đổi cây trồng, gắn với mô hình nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp công nghệ cao. Tỉnh định hướng ca cao như một cây trồng bổ trợ, góp phần đa dạng hóa sinh kế và cải thiện hệ sinh thái đất trong bối cảnh nhiều vùng sản xuất đang chịu áp lực suy thoái.

Ở Gia Lai, ca cao xuất hiện rải rác trong các mô hình trồng xen cà phê, hồ tiêu và cây ăn trái, chủ yếu ở những vùng có điều kiện canh tác phù hợp và quỹ đất chuyển đổi. Các cơ quan chuyên môn của tỉnh đánh giá ca cao có lợi thế ở khả năng thích nghi, ít cạnh tranh trực tiếp với cây trồng chủ lực, đồng thời mở ra hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị cao gắn với chế biến. Trong bối cảnh nông nghiệp Gia Lai đang tìm kiếm những cây trồng vừa bền vững sinh thái vừa có tiềm năng thị trường, ca cao được xem là một lựa chọn chiến lược hướng tới chất lượng và giá trị gia tăng.

Tái định vị cây ca cao

Nông dân tham khảo mô hình trồng ca cao tại Đăk Lắk. Ảnh: Kha Phạm - TTXVN

Nông dân tham khảo mô hình trồng ca cao tại Đăk Lắk. Ảnh: Kha Phạm - TTXVN

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk Đặng Thị Thủy thông tin: Cây ca cao tại Đắk Lắk đang từng bước khẳng định vai trò của mình trong hành trình tái cơ cấu nông nghiệp. Đây là loại cây trồng có chu kỳ phát triển dài ngày, kỹ thuật trồng, chăm sóc và yêu cầu về điều kiện thổ nhưỡng không quá phức tạp, vốn đầu tư vừa phải và đặc biệt phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, sản phẩm ca cao đáp ứng được thị trường đa dạng của tỉnh.

Là địa phương có diện tích cây ca cao nhiều nhất cả nước và được đánh giá là nơi có điều kiện lý tưởng để cây ca cao phát triển đặc biệt là đối với những vùng có đất xám bạc màu chưa xác định được cây trồng phù hợp.

Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk, tỉnh này hiện có khoảng 1.998 ha trồng ca cao (có số liệu đánh giá diện tích này là 1.140ha), năng suất hạt khô bình quân đạt hơn 15,38 tạ/ha, sản lượng năm 2025 ước tính đạt 1.650 tấn. Đánh giá chung từ các nhà khoa học, ca cao Đắk Lắk có chất lượng tốt nhất cả nước bởi tỉnh có điều kiện đất đai, khí hậu thổ nhưỡng phù hợp cho ca cao sinh trưởng, phát triển tốt.

Ngoài ra, theo tài liệu thống kê cho thấy, cây ca cao rất phù hợp với điều kiện trồng dưới tán cây khác, các phụ phẩm từ cây ca cao cũng được xác định là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất trồng trọt theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Điều kiện này chính là yếu tố then chốt giúp cây ca cao có vị trí vững chắc trong xu hướng phát triển nông nghiệp gắn với tăng trưởng xanh và chống biến đổi khí hậu.

Các hợp tác xã, doanh nghiệp thường áp dụng đầy đủ quy trình chế biến ca cao từ lên men cho đến thành phẩm. Thị trường ca cao Đắk Lắk không chỉ cung cấp sản phẩm hạt thô, mà còn cung cấp nhiều thành phẩm vào hệ thống từ chợ truyền thống đến hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, bếp ăn tập thể, đơn hàng từ các tỉnh lân cận và hướng đến xuất khẩu. Ngoài ra, quả ca cao cũng được xem là một loại trái cây có mùi vị hấp dẫn, có giá trị dinh dưỡng cao, trở thành sản phẩm mang đậm nét văn hóa và bản địa, thu hút nhiều khách du lịch trong, ngoài tỉnh và du khách quốc tế tìm đến tham quan, thưởng thức và trải nghiệm.

Dù là một trong những loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên cây ca cao vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu nông nghiệp của khu vực Tây Nguyên. Ngược lại, còn phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với rất nhiều loại cây trồng lâu năm khác như cà phê, tiêu, cao su và với cả các loại cây ăn quả như bơ, sầu riêng…

Riêng tỉnh Đắk Lắk đang xây dựng "Đề án phát triển ngành hàng ca cao" nhằm xây dựng ngành hàng ca cao phát triển theo chuỗi giá trị, đảm bảo bền vững đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ca cao ngày càng tăng ở thị trường xuất khẩu và nội địa.

Kha Phạm/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nang-tam-gia-tri-ca-cao-viet-nam-bai-1-tai-cau-truc-nong-nghiep-xanh-tay-nguyen/406377.html