Ngã ba Cò Nòi – Từ lịch sử đến thi ca

Có những địa danh chỉ được ghi dấu trên bản đồ, nhưng cũng có những địa danh bước vào lịch sử bằng máu, đi vào ký ức bằng nước mắt và sống mãi trong thi ca bằng những rung động không bao giờ cũ. Ngã ba Cò Nòi của Sơn La là một nơi như thế.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Cò Nòi là giao điểm của các tuyến giao thông huyết mạch nối hậu phương với tiền tuyến. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: "Ngã ba Cò Nòi là một cửa ải, tất cả mọi người ra trận đều phải vượt qua". Chính vì vị trí đặc biệt ấy mà nơi đây trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Pháp. Hàng chục tấn bom mỗi ngày đêm trút xuống mảnh đất chỉ rộng vài kilômet, biến Ngã ba Cò Nòi thành một trong những "tọa độ lửa" khốc liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhưng bom đạn không thể cắt đứt con đường tiếp viện. Trên mảnh đất ấy, biết bao chiến sĩ, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong đã lấy thân mình giữ mạch máu giao thông. Họ ngã xuống để những đoàn quân vẫn tiến về phía trước, để những chuyến xe, những đoàn xe đạp thồ, những gùi hàng, những bước chân không bao giờ dừng lại. Ngã ba Cò Nòi vì thế không chỉ là một địa danh của lịch sử mà còn là biểu tượng của ý chí của dân tộc Việt Nam trong những năm tháng gian lao nhất của dân tộc.

Tượng đài liệt sĩ TNXP Ngã ba Cò Nòi.

Tượng đài liệt sĩ TNXP Ngã ba Cò Nòi.

Lịch sử khép lại, nhưng ký ức thì không. Những hố bom còn in trên đất đỏ, những tượng đài lặng lẽ giữa núi rừng, những mùa ban nở trắng triền đồi... tất cả như vẫn kể câu chuyện của một thời máu lửa. Và cũng từ đó, Ngã ba Cò Nòi bước vào thơ ca như một miền ký ức thiêng liêng, nơi quá khứ không ngủ yên mà tiếp tục ngân lên trong tiếng nói của các thế hệ thi sĩ Sơn La.

Điều đáng quý là thơ viết về Ngã ba Cò Nòi không né tránh hiện thực khốc liệt. Các nhà thơ nhìn thẳng vào chiến tranh bằng cái nhìn của người chứng kiến, của người tri ân và của người mang trách nhiệm lưu giữ ký ức. Trong Bài ca về Ngã ba Cò Nòi anh hùng, tác giả Trần Nguyên Mỹ viết: "Ngã ba Cò Nòi chỉ 4 km² thôi/ Nhỏ bé như một bàn tay nhuộm máu...". Chỉ bằng vài câu thơ, tác giả đã đặt cạnh nhau hai kích thước tưởng chừng đối lập: Sự nhỏ bé của một địa danh và tầm vóc của lịch sử. "Bàn tay nhuộm máu" không chỉ là hình ảnh của đau thương mà còn là bàn tay đã giữ lấy con đường huyết mạch, giữ lấy niềm tin chiến thắng của cả dân tộc. Những con số tưởng như khô cứng của lịch sử khi bước vào thơ bỗng mang sức ám ảnh đặc biệt.

Còn tác giả Trịnh Mỹ Duyên đã cho chúng ta một hình dung: "Sáu mươi chín tấn bom dội xuống một ngày", "Mười ba phút một lần ném bom"... không đơn thuần là tư liệu mà trở thành nhịp điệu của sự hủy diệt. Người đọc có thể hình dung bầu trời Cò Nòi ngày ấy đặc quánh khói lửa, mặt đất rung chuyển bởi bom phá, bom Na-pan, bom nổ chậm. Nhưng cũng chính trong không gian ấy, như Bùi Nguyên Lượng khẳng định, "không làm chuyển lay ý chí ngoan cường". Đó là vẻ đẹp bất khuất của con người Việt Nam trước thử thách khắc nghiệt nhất.

Nếu Cò Nòi là khúc tráng ca của lịch sử thì lực lượng thanh niên xung phong là những nốt nhạc đẹp nhất của bản hùng ca ấy. Thơ Sơn La không dựng họ thành những tượng đài xa cách mà đưa họ trở về đúng với tuổi trẻ của mình. Những chàng trai, cô gái mười tám đôi mươi, áo vải, chân đất, nhiều người chưa biết chữ nhưng hiểu rất rõ thế nào là Tổ quốc. Tác giả Vũ Minh viết: "Đoàn chúng tôi có người không biết một chữ bẻ đôi/ Nhưng vẫn hiểu thế nào là lý tưởng...". Đó là những câu thơ khiến người đọc lặng đi. Lý tưởng trong chiến tranh không phải là những lời lẽ lớn lao mà giản dị như việc giữ cho con đường không bị tắc, giữ cho từng chuyến hàng đến được Điện Biên, giữ cho đồng đội tiếp tục tiến lên phía trước. Có lẽ ít câu thơ nào về Ngã ba Cò Nòi lại gây ám ảnh như câu thơ của Kiều Duy Khánh: "Tuổi mười tám gục lên màu cỏ cháy". Chỉ bảy chữ nhưng chứa đựng cả một thời đại. "Tuổi mười tám" là tuổi đẹp nhất của đời người, còn "màu cỏ cháy" là dấu tích của bom đạn và chiến tranh. Cái chết không còn là kết thúc mà trở thành sự hóa thân. Tuổi trẻ của họ ở lại với con đường, ở lại với đất, với cỏ, với mùa ban và với ký ức của dân tộc: "Đâu là nơi anh đã trút bỏ tuổi thanh xuân cho trẻ mãi con đường?". Câu hỏi day dứt ấy đã đưa Ngã ba Cò Nòi thành biểu tượng của sự sống được đánh đổi bằng tuổi trẻ của biết bao con người vô danh.

Thơ viết về Cò Nòi cũng khắc họa khí thế của một dân tộc cùng hướng về Điện Biên lịch sử. Từ mọi miền đất nước, những đoàn quân, đoàn dân công hội tụ nơi đây để tiếp sức cho chiến dịch. Tác giả Trần Nguyên Mỹ đã miêu tả: "Ngã ba Cò Nòi, bốn hướng quân về như thác đổ triều dâng...". Hình ảnh "thác đổ triều dâng" mang đậm âm hưởng sử thi, làm nổi bật sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Không chỉ có bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến mà còn có những đoàn xe đạp thồ, những đoàn người nối dài ngày đêm không nghỉ. Trong thơ Lương Mỹ Hạnh: "Xe thồ nặng ý chí/Từng chiếc lá cũng rung theo đoàn quân tiếp viện", con người và thiên nhiên hòa chung nhịp thở của cuộc kháng chiến, tạo nên một bức tranh giàu chất điện ảnh và giàu tính biểu tượng.

Một trong những giá trị nổi bật của thơ Sơn La đương đại là cảm hứng tri ân và tưởng niệm. Các nhà thơ không chỉ kể lại lịch sử mà còn kiến tạo một không gian thiêng của ký ức. Đứng trước tượng đài, Dương Thị Mùi hình dung: "Hai trăm tám mươi tấm đá xanh/ Khắc sâu hình hài các anh ở đó/ Để có mùa ban Điện Biên màu đỏ/ Là máu của bao người đồng đội hi sinh”. Hoa ban - biểu tượng của núi rừng Tây Bắc trong thơ không chỉ mang sắc trắng tinh khôi mà còn thắm đỏ bởi máu của những người đã ngã xuống. Thiên nhiên trở thành ký ức sống động của lịch sử, còn Cò Nòi trở thành "địa chỉ đỏ" nơi quá khứ vẫn hiện diện trong từng cánh hoa, từng ngọn cỏ.

Đáng chú ý, thơ viết về Cò Nòi còn thể hiện sự đa thanh văn hóa của vùng đất Sơn La. Không chỉ có thơ tiếng Việt mà còn có tiếng Thái, tiếng Mường, tiếng Mông... Những tác phẩm như Ngã ba tưởng niệm của Lường Văn Nam, Sáng mãi ngàn năm của Lò Xuân Thương hay Những đóa hoa Cò Nòi của Mùa A Phềnh… cho thấy ký ức Cò Nòi đã trở thành ký ức chung của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc. Chính điều đó tạo nên chiều sâu nhân văn và bản sắc văn hóa đặc sắc cho mảng thơ này.

Từ một ngã ba trên tuyến đường ra trận, Cò Nòi đã trở thành một biểu tượng của lịch sử; từ một biểu tượng của lịch sử, Cò Nòi lại bước vào thi ca để sống một đời sống khác - đời sống của ký ức và lòng biết ơn. Thơ ca không làm lịch sử xa hơn mà đưa lịch sử đến gần con người bằng cảm xúc, bằng vẻ đẹp của ngôn từ và bằng những suy tư lắng sâu.

Hôm nay, khi đứng trước Tượng đài Thanh niên xung phong Cò Nòi, nghe gió thổi qua những rừng ban Tây Bắc, nhìn những dấu tích chiến tranh còn lặng lẽ trên đất đỏ Sơn La, ta hiểu rằng lịch sử chưa bao giờ lùi vào quá khứ. Lịch sử vẫn hiện diện trong từng vần thơ, trong ký ức cộng đồng và trong lòng biết ơn của mỗi người Việt Nam. Và chính thơ ca đã làm cho Ngã ba Cò Nòi, từ một tọa độ lửa của chiến tranh, trở thành một miền bất tử của tâm hồn dân tộc./.

Hoàng Kim Ngọc (CTV)

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/xa-hoi/nga-ba-co-noi-tu-lich-su-den-thi-ca-fG5cOfEvg.html