Ngân hàng rút ngắn việc xác minh khách hàng nhờ dữ liệu chuẩn
Cùng với sự phát triển nhanh của hạ tầng số, việc làm sạch và xác thực chính chủ thuê bao di động đang tạo thêm nền tảng tin cậy cho các giao dịch trên môi trường số.

Nhân viên Viettel hỗ trợ khách hàng xác thực thông tin thuê bao.
Tập trung làm sạch cơ sở dữ liệu thông tin thuê bao
Theo một số chuyên gia kinh tế, kết quả làm sạch và định danh thuê bao không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý viễn thông mà còn tạo nền tảng hỗ trợ quá trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng.
Từ câu chuyện dữ liệu thuê bao, có thể thấy chuyển đổi số không chỉ là mở rộng hạ tầng kết nối mà còn đòi hỏi dữ liệu phải được chuẩn hóa, xác thực và có khả năng kết nối, khai thác. Điều này cũng được hiện theo tinh thần Nghị quyết 57, đó là dữ liệu, hạ tầng số và công nghệ được đưa vào phục vụ trực tiếp các hoạt động kinh tế - xã hội.
Tại Việt Nam, với 102 triệu thuê bao đã được chuẩn hóa, xác nhận chính chủ, dữ liệu viễn thông ngày càng có khả năng hỗ trợ các tổ chức tài chính, ngân hàng rút ngắn quá trình xác minh khách hàng, nâng cao an toàn giao dịch và thúc đẩy phát triển ngân hàng số.
Theo ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông - Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), thời gian qua hạ tầng viễn thông Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, chuyển dịch sang hạ tầng số hiện đại, dung lượng lớn, tốc độ cao, an toàn và ngày càng phổ cập.
Đặc biệt, chỉ sau 1 năm thương mại hóa 5G, các doanh nghiệp viễn thông đã triển khai hơn 40.000 trạm, đưa vùng phủ sóng tới 92% dân số. Tốc độ internet băng rộng di động đạt 210 Mbps, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 9 toàn cầu. Trong khi đó, mạng 4G tiếp tục duy trì độ phủ trên 99,8% dân số. Không chỉ vậy, hạ tầng băng rộng cố định cũng tiếp tục được mở rộng với hơn 1,3 triệu km cáp quang đã được triển khai tới 100% xã, phường trên toàn quốc; tốc độ Internet băng rộng cố định của Việt Nam xếp thứ 11 thế giới.
“Quy mô kết nối hàng trăm triệu thuê bao cùng hạ tầng siêu băng rộng ngày càng phổ cập không chỉ là nền tảng cốt lõi thúc đẩy chuyển đổi số Quốc gia mà còn tạo cơ sở để ngành Ngân hàng triển khai các dịch vụ tài chính số thế hệ mới, phục vụ hàng chục triệu giao dịch tức thời mỗi ngày”, ông Nguyễn Anh Cương chia sẻ.
Tuy nhiên ông Nguyễn Anh Cương cũng cho rằng, sự phát triển nhanh của hạ tầng số cũng kéo theo những vấn đề về sim rác, tin nhắn rác, cuộc gọi rác và các cuộc gọi có dấu hiệu lừa đảo. Điều này đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng số không chỉ cần nhanh và rộng mà còn phải bảo đảm mỗi kết nối ngày càng minh bạch, có khả năng xác thực và gắn với đúng người sử dụng.
Để xử lý vấn đề này, thời gian qua Bộ KH&CN đã phối hợp với Bộ Công an và các đơn vị liên quan triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết tập trung làm sạch cơ sở dữ liệu thông tin thuê bao. Trong giai đoạn 2022 - 2023, sau khi Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư được đưa vào khai thác, Bộ KH&CN đã phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an, đặc biệt Cục C06 (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông di động rà soát, làm sạch 125 triệu thông tin thuê bao.
“Qua đó, 17 triệu số có thông tin thuê bao không hợp lệ đã được xử lý, tạo nền tảng để bảo đảm các thuê bao đang hoạt động có thông tin hợp pháp, gắn với giấy tờ chính xác và trùng khớp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, lãnh đạo Bộ KH&CN chia sẻ.
Hiện, quá trình chuẩn hóa thuê bao chuyển sang giai đoạn mới với trọng tâm xác nhận chính chủ người sử dụng. Thông qua ứng dụng VNeID, người dân có thể tra cứu toàn bộ số thuê bao đứng tên mình tại các nhà mạng, xác nhận những số đang sử dụng và từ chối những số không thuộc quyền sử dụng.
Đến nay đã có 102 triệu số thuê bao được chuẩn hóa, xác nhận chính chủ sử dụng và tích hợp vào ví giấy tờ của công dân trên VneID (ứng dụng định danh điện tử); xấp xỉ 13 triệu số đã bị dừng dịch vụ do chưa hoàn thành việc chuẩn hóa, xác nhận, xác thực chính chủ theo quy định.
Nhiều ý kiến cho rằng, việc chuẩn hóa thuê bao sẽ giúp các tổ chức tài chính, ngân hàng giảm thời gian và chi phí xác minh trung gian. Thông qua VNeID, ngân hàng có thể kết nối, xác thực tính chính chủ của số điện thoại khách hàng sử dụng khi đăng ký mở tài khoản hoặc thực hiện giao dịch một cách nhanh chóng, bảo mật hơn.
Qua đó, việc bảo đảm thuê bao gắn với đúng người sử dụng góp phần xây dựng môi trường giao dịch điện tử an toàn, minh bạch, đồng thời tạo thêm nền tảng thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển tài chính số.
“Thời gian tới, Cục Viễn thông, Bộ KH&CN tiếp tục phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật tại các doanh nghiệp viễn thông; kịp thời chấn chỉnh, xử lý các trường hợp vi phạm. Qua đó, duy trì dữ liệu thuê bao di động ‘đúng, đủ, sạch, sống’, bảo đảm chính chủ, tạo nền tảng tin cậy đồng hành cùng quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng”, ông Nguyễn Anh Cương nhấn mạnh.
Đẩy mạnh xác thực tài khoản, kết nối VNeID
Cùng với việc làm sạch dữ liệu thuê bao, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh kết nối dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử, từng bước đưa dữ liệu trở thành nền tảng phục vụ hoạt động ngân hàng.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ký Quyết định số 1906/QĐ-NHNN cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ của ngành ngân hàng, tập trung vào giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến; thúc đẩy kinh tế số, xã hội số và công dân số; mở rộng hạ tầng, kết nối, khai thác dữ liệu và tăng cường ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh, xác thực điện tử trong hoạt động ngân hàng.
Trong đó, đến năm 2030, ngành ngân hàng phấn đấu 100% dịch vụ công, thủ tục hành chính được thông báo trạng thái, kết quả xử lý hồ sơ và đồng bộ kết quả trên VNeID; tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến trên tổng số hồ sơ dịch vụ công đạt 90%. Tỷ lệ dịch vụ công, thủ tục hành chính được cắt giảm thành phần hồ sơ, giấy tờ khi đã được tích hợp trên VNeID hoặc đáp ứng toàn trình về dữ liệu cũng phấn đấu đạt 80%.
Trong thúc đẩy kinh tế số - xã hội số, đến năm 2030, tỷ lệ thanh toán trực tuyến trong thực hiện dịch vụ công phấn đấu đạt 80%, tỷ lệ giao dịch thương mại điện tử sử dụng thanh toán điện tử đạt 90%. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khai thác phấn đấu đạt 95%.
Một trong những trọng tâm là tiếp tục khai thác dữ liệu dân cư, căn cước và VNeID trong hoạt động ngân hàng. NHNN sẽ chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD), tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán kết nối với Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, căn cước công dân gắn chip, hệ thống định danh và xác thực điện tử VNeID để xác minh, đối chiếu thông tin, làm sạch dữ liệu khách hàng và phục vụ các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng. Các tài khoản ngân hàng, ví điện tử được xác minh, đối chiếu thông tin với các nguồn dữ liệu này.
Không chỉ vậy, việc kết nối VNeID còn được mở rộng sang chi trả an sinh xã hội. NHNN sẽ chỉ đạo các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử để đối khớp số tài khoản ngân hàng do công dân đăng ký, khai báo trên VNeID để thụ hưởng chi trả an sinh xã hội.
Từ làm sạch dữ liệu thuê bao đến xác thực tài khoản và kết nối VNeID, dữ liệu đang từng bước được đưa vào sâu hơn trong hoạt động ngân hàng. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, xác thực và kết nối, hạ tầng số có thêm điều kiện phát huy giá trị, các quy trình được rút ngắn và việc cung cấp dịch vụ số có thêm nền tảng an toàn, minh bạch.
Đây cũng là thông điệp nổi bật từ quá trình triển khai chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng: Hạ tầng số cần đi cùng dữ liệu chất lượng, khả năng kết nối và khai thác dữ liệu để tạo ra giá trị thực tế.
