Ngành dầu khí trước bài toán tăng trưởng không dựa vào tài nguyên
Khi các mỏ dầu khí chủ lực suy giảm sản lượng, động lực tăng trưởng của ngành không thể tiếp tục dựa vào khai thác tài nguyên. Cải cách thể chế, khơi thông...
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, ngành dầu khí đứng trước bài toán kép: Vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tìm kiếm động lực phát triển mới khi dư địa khai thác tài nguyên ngày càng thu hẹp.
Tại Diễn đàn "Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững", tổ chức ngày 29/10 tại Hà Nội, các chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở sự suy giảm sản lượng tại các mỏ chủ lực, mà còn ở khả năng huy động vốn, đổi mới công nghệ và thích ứng với quá trình chuyển dịch năng lượng.

Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam (VnEconomy) phát biểu khai mạc diễn đàn.
Đặc thù của công nghiệp dầu khí là vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi kéo dài, rủi ro địa chất cao. Trong khi đó, việc phát triển các mỏ mới, nhất là mỏ nhỏ và mỏ cận biên, đòi hỏi cơ chế đầu tư đủ linh hoạt để bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Thực tế này đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận: Tăng trưởng của ngành không thể chỉ được đo bằng sản lượng khai thác, mà phải tính đến hiệu quả sử dụng vốn, giá trị công nghiệp tạo ra và khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.
Gỡ điểm nghẽn thể chế để khơi thông dòng vốn
Một trong những vấn đề trọng tâm được đặt ra tại diễn đàn là hoàn thiện thể chế nhằm giải phóng nguồn lực đầu tư cho công nghiệp dầu khí.
Theo các chuyên gia, với những dự án có quy mô vốn lớn và thời gian triển khai kéo dài, sự chậm trễ trong quy trình phê duyệt có thể làm gia tăng chi phí, ảnh hưởng tiến độ và giảm hiệu quả đầu tư.
Đặc biệt, đối với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên, hiệu quả kinh tế vốn đã chịu tác động bởi quy mô trữ lượng và chi phí khai thác. Nếu thủ tục kéo dài, khả năng thu hút nhà đầu tư càng trở nên khó khăn.
Ông Phạm Trường Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tìm kiếm, Thăm dò và Khai thác Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng, những bất cập trong thủ tục hành chính, phân cấp và phân quyền đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới thể chế.

TS. Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh việc hoàn thiện Luật Dầu khí.
Theo ông, cải cách Luật Dầu khí cần đi vào thực chất, khắc phục tình trạng "giao quyền nhưng vẫn phải xin ý kiến", khiến quá trình ra quyết định kéo dài, ảnh hưởng hiệu quả đầu tư.
Nguyên tắc xuyên suốt phải là "Ai làm, người đó quyết định và chịu trách nhiệm". Trao quyền cần đi đôi với xác định rõ trách nhiệm, đơn giản hóa thủ tục và xây dựng cơ chế xử lý công việc hiệu quả hơn.
Việc tháo gỡ những rào cản này không chỉ tạo điều kiện phát triển các mỏ nhỏ, mỏ cận biên mà còn mở rộng cơ hội đầu tư vào dịch vụ kỹ thuật và hạ tầng năng lượng.
Ở góc độ chính sách, TS. Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh, việc hoàn thiện Luật Dầu khí không đơn thuần là điều chỉnh phương thức quản lý, mà cần tạo bước đột phá về thể chế để giải phóng nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Theo ông, trọng tâm cải cách là phân cấp, phân quyền thực chất, xác định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời cắt giảm những thủ tục phê duyệt không cần thiết.
Đáng chú ý, theo thông tin được ông Hiếu nêu tại diễn đàn, số đầu việc phải trình Chính phủ, Thủ tướng phê duyệt giảm từ 26 xuống 13, trong khi số nội dung giao trực tiếp cho Petrovietnam tăng từ 12 lên 52.

Ông Phạm Trường Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tìm kiếm, Thăm dò và Khai thác Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam.
Những thay đổi về thẩm quyền này, nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, có thể tạo chuyển biến trong quy trình ra quyết định đầu tư, giảm chi phí hành chính và nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, phân cấp không chỉ là chuyển thẩm quyền từ cấp này xuống cấp khác. Điều quan trọng hơn là thiết lập cơ chế trách nhiệm rõ ràng, bảo đảm quyền quyết định gắn với khả năng kiểm soát rủi ro và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đối với ngành dầu khí, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi nhiều dự án liên quan đồng thời đến các lĩnh vực điện lực, đất đai, môi trường và hạ tầng kỹ thuật. Sự thiếu đồng bộ giữa các cơ chế quản lý có thể khiến tiến độ đầu tư bị kéo dài, dù từng dự án đã được xác định là cần thiết.
TS. Phan Đức Hiếu cũng đề cập yêu cầu xây dựng cơ chế ưu đãi đầu tư linh hoạt, đặc biệt đối với các mỏ cận biên, đồng thời tạo điều kiện phát triển công nghệ cao, dịch vụ dầu khí và các hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon.
Ở góc độ kinh tế, cải cách thể chế vì vậy không chỉ nhằm đơn giản hóa thủ tục. Mục tiêu sâu xa là giảm chi phí đầu tư, nâng cao khả năng dự báo chính sách và cải thiện sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh.
Khi thời gian ra quyết định được rút ngắn, trách nhiệm được xác định rõ và cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp hơn, nguồn vốn có thêm điều kiện để chuyển thành các dự án sản xuất, kinh doanh thực tế.
Đây cũng là tiền đề để ngành dầu khí mở rộng không gian tăng trưởng, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào những mỏ khai thác truyền thống.
Tạo giá trị công nghiệp thay vì chỉ gia tăng sản lượng
Nếu cải cách thể chế là điều kiện khơi thông nguồn lực, chuyển đổi mô hình tăng trưởng sẽ quyết định khả năng sử dụng hiệu quả những nguồn lực đó.
Theo ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam (VnEconomy) nhấn mạnh: Công nghiệp dầu khí đang chịu sức ép từ sự suy giảm tự nhiên của các mỏ chủ lực, biến động địa chính trị và yêu cầu thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Những thách thức này đòi hỏi ngành phải tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị, chuyển từ mô hình phụ thuộc vào khai thác tài nguyên sang công nghiệp – năng lượng, dựa trên ba trụ cột: Năng lượng, công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao.
Theo định hướng này, dầu khí không chỉ đóng vai trò cung cấp nguồn năng lượng đầu vào mà còn có thể tạo động lực phát triển cho cơ khí chế tạo, hóa chất, vật liệu, vận tải và các ngành công nghiệp hỗ trợ.
Ở lĩnh vực thượng nguồn, ứng dụng dữ liệu số và công nghệ hiện đại trong quản lý, vận hành mỏ có thể giúp tối ưu khai thác, nâng cao hệ số thu hồi dầu khí, kiểm soát an toàn và giảm phát thải methane.
"Khi chi phí khai thác ngày càng lớn, nâng cao hiệu suất tại các mỏ hiện hữu cũng mang lại ý nghĩa kinh tế quan trọng, bên cạnh việc tìm kiếm và phát triển nguồn trữ lượng mới.
Trong khi đó, phát triển lọc hóa dầu và công nghiệp chế biến sâu được xem là hướng đi nhằm nâng cao giá trị gia tăng từ tài nguyên", ông Bính nhấn mạnh.

Ông Đặng Thanh Tùng, Phó Trưởng ban Chiến lược, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam).
Cũng theo ông Bính, thay vì chỉ xuất phát từ mục tiêu gia tăng sản lượng, việc mở rộng các khâu chế biến và sản xuất sản phẩm công nghiệp có thể tạo thêm nhu cầu đối với thiết bị, vật liệu, công nghệ và dịch vụ kỹ thuật trong nước.
Đối với lĩnh vực khí, phát triển các chuỗi dự án quy mô lớn, đồng bộ hạ tầng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), kho cảng, vận chuyển và phân phối có thể mở ra dư địa đầu tư mới.
Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quy mô dự án, mà còn ở khả năng kết nối giữa nguồn cung, hạ tầng và thị trường tiêu thụ. Nếu các khâu phát triển thiếu đồng bộ, chi phí đầu tư và giá thành năng lượng có nguy cơ gia tăng.
Một hướng phát triển khác, ông Bính nhấn mạnh là tận dụng năng lực cơ khí chế tạo, xây lắp và dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi để tham gia những lĩnh vực năng lượng mới.
Kinh nghiệm thiết kế, thi công và vận hành công trình dầu khí trên biển có thể trở thành lợi thế khi doanh nghiệp tiếp cận điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amoniac xanh và công nghệ thu giữ, sử dụng, lưu trữ carbon.
Tuy nhiên, mở rộng sang các lĩnh vực này cần dựa trên năng lực công nghệ, khả năng huy động vốn và nhu cầu thị trường thực tế, tránh đầu tư dàn trải.
Đại diện Petrovietnam, ông Đặng Thanh Tùng, Phó Trưởng ban Chiến lược, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam ( Petrovietnam) cho rằng, ngành dầu khí Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng, từ hoạt động khai thác tài nguyên truyền thống sang mô hình công nghiệp – năng lượng tích hợp.
Theo ông, động lực tăng trưởng không thể chỉ dựa vào sản lượng khai thác mà cần đến từ chuỗi giá trị chế biến sâu, hạ tầng năng lượng, khoa học công nghệ và các ngành công nghiệp phụ trợ.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, doanh nghiệp cần một môi trường chính sách minh bạch, ổn định, cơ chế huy động vốn dài hạn và chia sẻ rủi ro đầu tư phù hợp.
Đồng thời, những điểm nghẽn trong phối hợp giữa các lĩnh vực dầu khí, điện, đất đai và môi trường cần được tháo gỡ để tạo điều kiện triển khai các dự án có tính liên kết cao.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vì thế không chỉ là mở rộng danh mục đầu tư, mà còn là tổ chức lại chuỗi giá trị, nâng cao năng lực công nghệ và tăng khả năng tham gia thị trường quốc tế.

Đại diện Petrovietnam cho rằng, cần chuyển từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị công nghiệp – năng lượng.
Khi dư địa khai thác tài nguyên ngày càng thu hẹp, sức cạnh tranh của ngành dầu khí sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào hiệu quả sử dụng vốn, năng lực công nghiệp và khả năng tạo ra giá trị gia tăng.
Tuy nhiên, những động lực mới khó hình thành nếu cải cách thể chế không theo kịp yêu cầu đầu tư và chuyển dịch năng lượng.
"Bởi vậy, thước đo thành công của quá trình chuyển đổi không chỉ là số dự án được triển khai hay sản lượng dầu khí khai thác, mà còn là khả năng chuyển hóa nguồn lực tài nguyên, công nghệ và hạ tầng thành năng lực sản xuất, sức cạnh tranh và giá trị kinh tế bền vững", ông Tùng nói.

