Nghệ An: Du lịch biển Cửa Lò hình thành tiếp sản phẩm du lịch văn hoá tâm linh (Bài 3 - Hết)
Để du lịch biển Cửa Lò đón khách cả 4 mùa trong năm, Nghệ An đang hình thành những sản phẩm du lịch mới, trong đó có du lịch làng nghề (xem Bài 2: Tour Du lịch biển Cửa Lò kết hợp tham quan, trải nghiệm gía trị truyền thống làng nghề", phát ngày 23/9/2026) và những điểm du lịch văn hoá tâm linh.
Du khách đến Cửa Lò không chỉ tắm biển, thụ hưởng không khí trong lành, thưởng thức văn hoá ẩm thực truyền thống của địa phương mà còn có dịp tham quan, trải nghiệm văn hoá tâm linh, thắp hương các đình, đền, chùa là di tích lịch sử để cầu may, kết hợp với lễ hội đặc sắc ở những địa phương này.
Trao đổi với Phóng viên Tạp chí Điện tử Văn hóa và Phát triển, ông Ngô Đức Kiên, Bí thư phường Cửa Lò cho biết: “Thời gian tới, Cửa Lò tiếp tục triển khai các đề án, kế hoach trùng tu, tôn tạo phát huy các di tích trên địa bàn phường. Đồng thời tổ chức các hoạt động tại các điểm di tích. Đồng thời xây dựng kế hoạch tuyên truyền các điểm đến là di tích trên địa bàn, du khách ngoài việc tắm biển còn trở về nơi đây để hiểu hơn về cội nguồn văn hóa tâm linh tại đô thị biển đầu tiên của cả nước”.

Các điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách. Ảnh: Nguyễn Diệu
Tại Cửa Lò, có nhiều ngôi chùa và đền nổi tiếng linh thiêng mang đậm giá trị lịch sử, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân và là điểm tham quan hấp dẫn. Với 35 di tích lịch sử, văn hóa đã được phân cấp quản lý, trong đó có 3 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, gồm: Đền Vạn Lộc, đền Mai Bảng, nhà thờ họ Hoàng Văn; 1 di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia - Lễ hội đền Yên Lương. Nhiều di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, như: chùa Lô Sơn, chùa Song Ngư, đền Diên Nhất, đền Yên Lương, đền Bàu Lối, đền Làng Hiếu, nhà thờ họ Hoàng Thế, nhà thờ Phùng Phúc Kiều...
Để thấy rằng, sự phát triển của du lịch đã gắn liền, song hành với không gian văn hóa tâm linh truyền thống. Người dân miền biển Cửa Lò không chỉ biết giữ gìn, phát huy mà còn biết khai thác yếu tố văn hóa tâm linh thành một nhân tố quan trọng để thu hút khách du lịch.
Tương lai không xa, du lịch văn hóa sẽ có sự bùng nổ. Và Cửa Lò đang hướng đến điều đã, đang và sẽ xảy ra bởi những tiềm năng, vốn tự có. Chính du lịch đã thúc đẩy việc bảo vệ kho tàng văn hóa miền biển Cửa Lò. Từ nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chính quyền địa phương và người dân nơi đây thêm quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo gìn giữ để bảo tồn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa. Bởi thế, hoạt động du lịch gắn với văn hóa tâm linh trở thành cơ sở, động lực sinh kế chính, ngành nghề chủ yếu của người dân cũng như ngành kinh tế chủ lực của địa phương.


Đền Yên Lương. Ảnh: Nguyễn Diệu
Đền Yên Lương được xây dựng năm Nhâm Tuất (1682), niên hiệu Chính Hòa thứ 3 đời vua Lê Hi Tông, là công trình kiến trúc tâm linh có bề dày lịch sử gần 350 năm. Đền có quy mô lớn với các hạng mục công trình như: nghi môn, lầu voi, ngựa, hạ điện, trung điện, thương điện. Hiện đền còn lưu giữ 132 hiện vật, trong đó có 16 hiện vật cổ như long ngai bài vị, chuông đồng, hoành phi, câu đối, bộ xương cá Ông...
Đền Yên Lương với tín ngưỡng thờ hải thần gắn với đời sống tâm linh của cư dân vùng biển, từ đó hình thành nên hệ thống văn hóa biển của người Việt.
Trong hệ thống hải thần của ngư dân Cửa Lò bao gồm những vị thần khi sống được giao cai quản vùng biển, vùng cửa sông, cửa lạch như: Hoàng Tá Thốn, Lê Khôi, Nguyễn Sư Hồi…; hay những vị thần hiển linh được phong cai quản vùng biển: Tứ vị thánh nương, nhiên thần Cao Sơn Cao Các khi được tôn thờ ở vùng biển cũng trở thành những vị hải thần chuyên trấn giữ cửa biển. Ngoài ra, cư dân nơi đây còn có tín ngưỡng thờ Ngư ông, một tín ngưỡng thờ hải thần rất phổ biến của cư dân vùng biển.

Đền Vạn Lộc. Ảnh: Nguyễn Diệu
Đền Vạn Lộc: Du khách về với đền Vạn Lộc sẽ được nghe câu chuyện về người “khai ấp lập làng, mang gươm đi mở cõi” - Thái úy Quận công Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506), con trai trưởng của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí. Đền Vạn Lộc có vị trí rất đẹp, trước mặt là dòng sông Cấm êm đềm, sau lưng là núi Lò, bên phải có núi Rồng, bên trái có núi Tượng Sơn tạo thế "rồng chầu, hổ phục". Đền được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1991.


Đền Làng Hiếu - Đền thờ cá Voi nhiều nhất Nghệ An. Ảnh: Nguyễn Diệu
Đền Làng Hiếu: Đặc biệt, dù chỉ một lần, chúng ta nên ghé thăm đền Làng Hiếu với lịch sử hơn 300 năm hình thành. Đây là nơi thờ phụng thần ngư với 85 ngôi mộ cá ông cùng nhiều giai thoại, truyền thuyết (cá Ông - nhân vật tín ngưỡng linh thiêng mang bản sắc riêng của vùng biển). Cá Ông không chỉ là phúc hải đại thần của biển khơi, giúp đỡ những người đi biển mà còn hiển linh đối với nhân dân trong vùng và những vùng lân cận. Chính vì vậy mà tín ngưỡng thờ cá Ông còn được thực hành rộng rãi nhằm cầu cúng những điều tốt lành trong đời sống thường ngày của mọi người dân. Ngoài ra đền còn thờ các vị thần Cao Sơn, Cao Các, Đức Thánh Mẫu, Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn và Đức Phật. Đền Làng Hiếu được xem là ngôi đền thờ nhiều cá voi nhất Nghệ An.


Đền Mai Bảng. Ảnh: Nguyễn Diệu
Đền Mai Bảng: Là ngôi đền cổ với hàng trăm năm tuổi, giá trị của đền được lưu giữ bằng những hiện vật, nét chạm trổ tinh xảo, vi diệu và bí ẩn. Đây là nơi thờ Chiêu Trưng đại vương Lê Khôi, Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, Thủy tinh phu nhân cùng 6 vị khai cơ lập làng. Đền vừa có giá trị lịch sử, vừa mang nét kiến trúc đặc sắc, lưu giữ nhiều cổ vật quý hiếm, đặc biệt có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân vùng sông nước Cửa Lò. Đền còn lưu giữ 138 hiện vật, trong đó có 75 hiện vật cổ: sắc phong, biển, kiệu, câu đối, đại tự, long ngai bài vị, hương án, bát bửu bàn thờ… Năm 2016, đền Mai Bảng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định là di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Đền Bàu Lối là một trong những di tích tồn tại lâu bền, song hành với tiến trình phát triển của Cửa Lò. Xưa, đền còn có tên gọi khác là đền Thu Lũng (thuộc làng Kén ngày xưa). Cách đây khoảng 700 - 750 năm về trước, trong bia đá của Đền ghi lại: Trên một dải đất sa hoàng thuộc vùng duyên hải, các vị thần tổ, tổ tiên của 12 dòng họ “... Phùng, Hoàng, Lê, Nguyễn, Trần, Đinh, Bùi, Chế...” đã đặt chân đến, nhóm họp lại và lập ra làng Kén thời sơ khai.

Đền Bàu Lối. Ảnh: Nguyễn Diệu
Đền thờ Thần chủ Cao Sơn, Cao Các Đại vương và phối thờ Tam tòa Thánh Mẫu; Hậu thần Hoàng Khắc Dòng - người đã có công trong việc xây dựng và tôn tạo đền làng. Và thờ các vị thần tổ, tổ tiên của các dòng họ đã về làng khai hoang lập ấp.
Những ngôi đền này không chỉ có không gian yên bình, thoáng đãng mà còn lưu giữ được nhiều phong tục truyền thống của cư dân vùng biển. Thật thú vị khi vừa dâng hương, chiêm bái, vừa được nghe các cụ từ kể những câu chuyện về phong tục, lối sống của cư dân vùng biển.
Chùa Lô Sơn do Tể tướng Nguyễn Văn Miên dựng vào năm Vinh Thịnh (1705 – 1719) đời Vua Lê Dụ Tông còn gọi là Phổ Am Tự. Chùa có quy mô vừa phải, thanh tịnh, linh thiêng, tọa trên một địa thế khá đẹp, tựa lưng vào núi Lô, hướng về phương bắc.


Chùa Song Ngư. Ảnh: Nguyễn Diệu
Dù đã trải qua hàng trăm năm nhưng đến nay, ngôi chùa vẫn nguyên vẹn nét cổ kính, hài hòa với khung cảnh thiên nhiên hữu tình. Đến thăm viếng di tích, du khách sẽ được tận hưởng sự trong lành của cảnh quan thiên nhiên.
Trong số các điểm văn hóa tâm linh nổi tiếng, không thể không nhắc đến chùa Song Ngư - ngôi chùa án ngữ trên đảo Ngư xinh đẹp. Ngôi chùa cổ này có tuổi đời hơn 800 năm, được xây dựng từ đầu thế kỷ XIV dưới thời Lý - Trần, án ngữ trên đảo Ngư xinh đẹp. Ra thăm chùa, du khách không chỉ được trải nghiệm cảm giác khi di chuyển bằng cáp treo, mà còn được đắm mình trong không gian thơ mộng của biển trời cùng thế giới linh thiêng của phật pháp. Đây chính là nơi ngư dân mỗi khi ra khơi thường ghé đến để cầu bình an.
Lễ hội đền Yên Lương (15/6 âm lịch), lễ cầu Ngư tại đền Làng Hiếu (15/3 âm lịch), lễ hội đền Vạn Lộc (15 tháng Giêng), lễ hội đền Mai Bảng (12/2 âm lịch)... đều là những lễ hội cổ truyền đã tồn tại hàng trăm năm với nhiều phần lễ mang đậm bản sắc của cư dân vùng biển như: Lễ cáo Trung thiên, lễ yết cáo, lễ rước Phụng nghinh, lễ cầu ngư, lễ đại tế và lễ tạ.
Anh Lê Thanh Tuấn, du khách đến từ Đà Nẵng chia sẻ rằng, cách làm du lịch của Cửa Lò năm nay rất khác. Không chỉ một mùa, mà Cửa Lò 4 mùa đều như 1. Về đây, ngoài tắm biển, thưởng thức hải sản tươi ngon, còn được đi thăm quan, trải nghiệm tại các làng nghề. Đặc biệt là được nghe những câu chuyện về đền, chùa; chạm vào kí ức vốn dĩ đã hòa vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Cửa Lò.
Lễ hội Đền Yên Lương vinh dự được Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch ghi danh vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia. Đây là lễ hội dân gian gắn với tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương và các vị phúc thần của cư dân ven biển, là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc nhất của Nghệ An thể hiện được nhiều yếu tố riêng có của văn hóa vùng biển, được lưu truyền qua hàng trăm năm. Lễ hội là dịp để nhân dân thực hành những nghi thức liên quan đến nghề nghiệp, để cầu mong sự linh ứng của các vị thần phù hộ cho nhân dân được cuộc sống bình an, thịnh vượng, mùa màng bội thu.

Lễ hội đền Yên Lương được tổ chức vào ngày 15/6 âm lịch. Ảnh: Phường Cửa Lò
Lễ hội là hoạt động văn hóa thể hiện tín ngưỡng và bản sắc văn hóa độc đáo của nhân dân địa phương vùng biển Cửa Lò, qua đó thể hiện nguyện vọng thiết tha của người dân miền biển, là điểm tựa tinh thần của đông đảo ngư dân trong vùng cầu cho mỗi chuyến ra khơi vào lộng được sóng yên bể lặng, tôm cá đầy thuyền... Và có thể khẳng định rằng, đây chính là hồn cốt của miền biển, nơi lưu giữ nét đẹp văn hoá của người dân làng Yên Lương nói riêng, Cửa Lò nói chung.
Vật phẩm cúng tế ở đền ngoài hương, đăng, trà, quả còn có cỗ mặn tam sinh do làng cử các giáp, các gia đình thay nhau luân phiên làm và tế thần vào ngày 16 tháng 6 và trong kỳ lễ này một vật phẩm nhất thiết phải có đó là “oản nếp”. Tuy nhiên, điểm độc đáo, đặc sắc, thu hút du khách thập phương khi “thưởng thức” “hồn cốt” văn hóa Cửa Lò là lễ cầu ngư.
Với ngư dân nơi đây, Lễ hội Cầu Ngư là một trong những lễ hội quan trọng nhất, là ngày hội lớn của cả làng. Trong những ngày diễn ra lễ hội, tất cả các ngư dân đều nghỉ không đi biển. Trước đây, lễ hội diễn ra mỗi năm một lần nhưng hiện nay do nhiều yếu tố, định kỳ 3 năm, làng Yên Lương sẽ tổ chức đại lễ. Lễ hội được diễn ra vào rằm tháng 2 âm lịch.

Lễ hội đền Yên Lương - Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia. Ảnh: Phường Cửa Lò
Trong ngày lễ, dân làng rước dấu ấn của Ngài: Sát Hải Đại Vương (Thần cai quản biển), Thần Cô, Thần Cậu (Thần biển)… từ đền Yên Lương ra các thuyền ở cửa lạch để làm lễ phùng nghinh. Ban thờ được trang hoàng rực rỡ, trang nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều chăng đèn kết hoa. Làng chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ (không được dùng hải sản) và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với biển cả và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.
Lễ hội Cầu Ngư của ngư dân vùng biển luôn mang một thông điệp chung “cầu cho trời yên biển lặng, tôm cá đầy khoang, đời sống của ngư dân ngày càng ấm no, sung túc. Ngư dân luôn bám biển và sẵn sàng bảo vệ biển trời quê hương, dù cho sóng to gió lớn nhưng vẫn vững tay lái, tay chèo”.
Để thấy rằng, Lễ hội đền Yên Lương là một trong số ít các lễ hội truyền thống của Nghệ An còn thể hiện được nhiều yếu tố bản sắc văn hóa, được lưu truyền qua hàng trăm năm, không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự hành chính hóa lễ hội hay sự du nhập làm biến đổi các nghi thức, trình lễ truyền thống.
Lễ hội được tổ chức hàng năm cũng là cơ hội giới thiệu, quảng bá về tiềm năng du lịch Cửa Lò, giáo dục truyền thống lịch sử văn hoá, những nét đẹp về phong tục tập quán, mảnh đất con người nơi đây, đã trở thành sản phẩm văn hóa du lịch đặc trưng, hòa cùng vẻ đẹp của thiên nhiên và xôn xao trên bến dưới thuyền, đã làm nên một Cửa Lò rất riêng với những sắc màu vô cùng quyến rũ và thu hút.
Cùng với sự hấp dẫn của “thiên đường nghỉ dưỡng biển”, du lịch gắn với tìm hiểu và trải nghiệm văn hóa dân gian một vùng đất đang là xu hướng mới, được nhiều du khách lựa chọn khi về với Cửa Lò. Điều này không những đem lại các lợi ích kinh tế, thúc đẩy ngành du lịch phát triển, mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích, lễ hội truyền thống.
Năm 2025, Cửa Lò đón 4,76 triệu lượt khách, trong đó khách lưu trú đạt 1,69 triệu lượt, doanh thu du lịch đạt 5.000 tỉ đồng.
Năm 2026, Cửa Lò dự kiến đón 5,2 triệu lượt khách, trong đó khách lưu trú đạt 1,832 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt 5.400 tỉ đồng, tiếp tục khẳng định vai trò động lực của du lịch Nghệ An.

