Nghệ An phát triển cây con chủ lực (Bài 2): Bài toán chi phí ẩn và nguyên lý kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp
Ngành nông nghiệp Việt Nam tạo ra khoảng 156 triệu tấn phụ phẩm và chất thải mỗi năm, trong đó chỉ 35% được tái sử dụng hiệu quả. Khi không được xử lý đúng cách, các chất thải này đang tạo ra chi phí ẩn khổng lồ làm sạch môi trường và phục hồi sinh thái.
Tác động ngoại ứng tiêu cực của chất thải nông nghiệp không được kiểm soát
Đối với ngành chăn nuôi, lượng phân chuồng thải ra hàng năm là hàng triệu tấn nhưng chỉ khoảng 30% được xử lý tận dụng. Khi thải ra môi trường, phân chuồng phân hủy phát sinh khí metan - một khí nhà kính có tác dụng nóng lên hành tinh 28 lần mạnh hơn CO2, đồng thời làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và bề mặt với nồng độ nitơ và phốt pho cao vượt chuẩn, gây ra hiện tượng sung tài nước.
Đối với ngành chế biến sắn, mía và dứa lượng bùn thải ra mỗi năm hàng triệu mét khối, chứa nhiều chất hữu cơ khó phân hủy và kim loại nặng, khi thải ra sông ngầm sẽ làm hủy hoại hệ sinh thái thủy sinh, làm mất đi nguồn nước sinh hoạt cho người dân địa phương.

Nhiều trại chăn nuôi xây dựng trái phép trên địa bàn xã Kim Bảng (Nghệ An) cần thường xuyên kiểm tra và giám sát quy trình xả thải để bảo vệ môi trường không bị ô nhiễm. Ảnh: Nguyễn Công
Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật còn tồn dư trong rau, trái cây, gây nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, đồng thời làm suy giảm chất lượng đất đai theo thời gian. Theo khảo sát, 45% mẫu nước ngầm tại các vùng chuyên canh có dư lượng nitrat vượt ngưỡng, trong khi 35% mẫu nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Tỷ lệ nông dân mắc các bệnh nghề nghiệp như bệnh hô hấp và bệnh ngoài da lần lượt là 35% và 28%, với chi phí y tế liên quan đến ngộ độc thực phẩm do dư lượng hóa chất nông nghiệp ước tính lên đến 400 tỷ đồng mỗi năm.
Phản biện mô hình liên kết chuỗi và ứng dụng kinh tế tuần hoàn
Để giải quyết bài toán chi phí ẩn này, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đã áp dụng mô hình liên kết chuỗi giá trị kết hợp với nguyên lý kinh tế tuần hoàn, chuyển hóa chất thải và phụ phẩm thành tài nguyên tái sử dụng. Theo định nghĩa của Quỹ Ellen MacArthur Foundation, kinh tế tuần hoàn là một hệ thống trong đó vật liệu không bao giờ trở thành rác thải mà được tái sinh, với các sản phẩm và vật liệu được lưu thông thông qua các quá trình như bảo trì, tái sử dụng, tân trang, tái sản xuất, tái chế và ủ phân.
Ở Việt Nam, chính phủ đã có một số chính sách khuyến khích áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành nông nghiệp, như chương trình hỗ trợ vốn cho các dự án xử lý chất thải nông nghiệp, thuế ưu đãi cho sản phẩm từ tái chế chất thải nông nghiệp. Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế, mức độ lồng ghép nguyên lý này vẫn còn khác nhau giữa các đơn vị sản xuất.
Doanh nghiệp quy mô lớn: Đã xây dựng được hệ thống thu gom và xử lý chất thải, tạo ra phân bón hữu cơ, khí đốt hoặc nhiên liệu sinh học từ chất thải nông nghiệp, với cơ chế chính sách rõ ràng được triển khai hiệu quả.

Nhiều mô hình HTX vẫn đang gặp khó khăn trong việc xử lý phân gà, gây ra tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh. Ảnh tư liệu
Hợp tác xã và hộ gia đình quy mô nhỏ: Việc chuyển hóa chất thải vẫn chủ yếu là mục tiêu định tính, do hạn chế về vốn đầu tư, công nghệ và kiến thức quản lý môi trường. Chỉ có 30% các hợp tác xã nông nghiệp có hệ thống xử lý chất thải theo chuẩn môi trường, với tỷ lệ tái chế chất thải nông nghiệp chỉ đạt dưới 35%.
Các chuyên gia cho rằng, việc phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp còn gặp nhiều rào cản: thiếu hệ thống quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia như nhãn mác, nhãn chứng nhận cho sản phẩm nông nghiệp tuần hoàn; thiếu chính sách tín dụng xanh, bảo hiểm rủi ro, khuyến khích đầu tư công nghệ xử lý phụ phẩm; chưa có nền tảng số hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hợp tác xã tiếp cận thông tin và nguồn lực.
Kết quả thực tế tại một số vùng chuyên canh tại Nghệ An
Để chứng minh mối tương quan giữa quy mô tập trung và năng lực quản trị rủi ro môi trường, chúng ta có thể tham khảo khảo sát thực tế tại một số vùng chuyên canh sắn, mía và chăn nuôi tại Nghệ An.
Các mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xây dựng được hệ thống thu gom phân chuồng và tạo ra phân bón hữu cơ, giúp giảm chi phí mua phân bón và tạo ra nguồn thu phụ trợ cho nhân dân. Các mô hình còn có hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi theo chuẩn môi trường, giúp giảm thiểu tác động đến môi trường xung quanh.

Đàn bò sữa của Tập đoàn TH được chăm sóc theo quy trình bài bản, hiện đại bậc nhất thế giới. Ảnh tư liệu
Nhà máy chế biến tinh bột sắn của Công ty Cổ phần nông thuỷ sản Nghệ An tại xã Đại Đồng: Với quy mô sản xuất hàng năm hơn 100.000 tấn sắn tươi, doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống xử lý bùn chế biến sắn, tạo ra khí đốt để sử dụng cho quá trình sản xuất, giúp giảm chi phí năng lượng và giảm thiểu tác động môi trường. Doanh nghiệp còn bán phần bùn đã xử lý cho các hộ gia đình làm phân bón hữu cơ, tạo ra nguồn thu phụ trợ cho doanh nghiệp.
Hợp tác xã chăn nuôi Long Tiến: Với quy mô tập trung hơn 10.000 con gà ta, hợp tác xã chỉ có hệ thống xử lý nước thải cơ bản, do hạn chế về vốn đầu tư và kiến thức quản lý môi trường. Hợp tác xã vẫn đang gặp khó khăn trong việc xử lý phân gà, gây ra tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh.
Kết quả khảo sát cho thấy, các đơn vị sản xuất có quy mô tập trung lớn hơn có khả năng quản trị rủi ro môi trường tốt hơn, do có nguồn vốn và công nghệ để đầu tư vào hệ thống xử lý chất thải. Ngược lại, các đơn vị sản xuất quy mô nhỏ thường gặp khó khăn trong việc quản lý rủi ro môi trường, do hạn chế về vốn và kiến thức. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự kết hợp giữa chính sách khuyến khích từ chính phủ, đầu tư công nghệ từ doanh nghiệp và hợp tác xã và sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Đề án đặt mục tiêu tổng quát là phát triển sản xuất các cây trồng, vật nuôi chủ lực của tỉnh Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn gắn liền với công nghệ chế biến, bảo quản hiện đại, xây dựng thương hiệu mạnh phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Lĩnh vực chăn nuôi lợn tại Nghệ An: Phát triển tổng đàn đạt 1,3 triệu con (sản lượng thịt hơi đạt 225.000 tấn/năm). Ảnh tư liệu
Giai đoạn 2026 – 2030, Nghệ An phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đạt bình quân 5 - 5,5%/năm. Tỷ trọng đóng góp chiếm từ 80 - 85% tổng giá trị ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu chiếm 93 - 95% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Xây dựng mới từ 100 - 150 chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm bền vững với sự tham gia của trên 150 - 165 doanh nghiệp và 300 hợp tác xã (HTX). Đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng.
Tầm nhìn đến năm 2045, Nghệ An hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, đóng vai trò trụ cột cho kinh tế nông thôn. Trong đó, 100% cây trồng, vật nuôi chủ lực sẽ được quy hoạch sản xuất tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp số và tuần hoàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế và sở hữu thương hiệu mạnh trên thị trường toàn cầu.
Định hướng chi tiết từng loại cây trồng đến năm 2030
UBND tỉnh Nghệ An đã vạch rõ định hướng chi tiết cho từng loại cây trồng đến năm 2030, nhấn mạnh vào cơ giới hoá, tiêu chuẩn VietGap/Globa/Hữu cơ và chế biến sâu.
Cụ thể, đối với cây lúa: Ổn định diện tích 163.500 ha/2 vụ. Cây sắn: Ổn định diện tích 12.000 ha tại vùng trung du, miền núi. Cây mía: Mở rộng diện tích lên 25.700 ha, ứng dụng công nghệ cao/VietGAP trên khoảng 10.000 ha. Tối ưu hóa hiệu quả chuỗi tuần hoàn. Rau củ quả: Phát triển diện tích đạt 45.000 ha, mở rộng 4.500 ha ứng dụng công nghệ cao và 25 - 30% diện tích đạt chuẩn VietGAP/GlobalGAP/Hữu cơ. Chè công nghiệp: Phát triển diện tích đạt 12.000 ha, tập trung vào các vùng chè truyền thống và phát triển chè Shan Tuyết đặc sản miền núi gắn với du lịch sinh thái - văn hóa. Cây dứa: Mở rộng diện tích đạt 13.000 ha, chuyển đổi mạnh sang các giống MD2, Cayen và Queen. Dược liệu: Mở rộng diện tích đạt 8.000 ha theo mô hình "liên kết 4 nhà". Cây gỗ nguyên liệu: Phát triển diện tích đạt 180.000 ha rừng trồng, nâng diện tích rừng gỗ lớn lên 30 - 35%

Mở rộng diện tích lên 25.700 ha, ứng dụng công nghệ cao/VietGAP trên khoảng 10.000 ha. Ảnh: Nguyễn Công
Đối với lĩnh vực chăn nuôi lợn: Phát triển tổng đàn đạt 1,3 triệu con (sản lượng thịt hơi đạt 225.000 tấn/năm). Chăn nuôi gia cầm: Tổng đàn đạt 56 triệu con (gà chiếm 80 - 85%), sản lượng thịt hơi đạt 130.000 tấn/năm. Chăn nuôi bò thịt: Tổng đàn đạt 555.000 con. Chăn nuôi bò sữa: Phát triển quy mô tổng đàn đạt 95.000 con, sản lượng đạt 450.000 tấn sữa/năm. Nuôi tôm: Đạt diện tích 2.250 ha. Nuôi cá: Đạt diện tích 19.550 ha, sản lượng 60.000 tấn/năm. Phát triển mạnh nuôi cá lồng trên các hồ chứa lớn (Bản Vẽ, Vực Mấu, Khe Bố) với các loài cá đặc sản, kết hợp mô hình "Du lịch nông nghiệp thủy sản".
Cần tăng cường những giải pháp xử lý chất thải
Việc áp dụng nguyên lý kinh tế tuần hoàn trong chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ giúp giảm chi phí ẩn cho doanh nghiệp và hợp tác xã, mà còn giúp bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương. Để thực hiện mục tiêu này, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp toàn diện: Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách, bao gồm việc xây dựng Luật Kinh tế Tuần hoàn và các tiêu chuẩn quy định về xử lý chất thải nông nghiệp.
Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ xử lý chất thải nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ biogas, ủ phân compost và xử lý nước thải tuần hoàn.

Cần tăng cường những giải pháp xử lý chất thải tại các trại chăn nuôi. Ảnh: Nguyễn Công
Xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân sử dụng các sản phẩm bền vững, bao gồm chính sách về vốn đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn và tư vấn kỹ thuật.
Phát triển thị trường và chuỗi giá trị cho các sản phẩm từ tái chế chất thải nông nghiệp, bao gồm xây dựng hệ thống chứng nhận “Nông sản Tuần hoàn” và mạng lưới điểm bán chuyên biệt.
Nếu muốn tìm hiểu thêm về cách áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành nông nghiệp tại Việt Nam hoặc cần tư vấn về cách xây dựng hệ thống xử lý chất thải cho doanh nghiệp hoặc hợp tác xã của mình, bạn có thể liên hệ với các cơ sở nghiên cứu nông nghiệp hoặc các công ty tư vấn môi trường chuyên ngành.

