Nghe 'ông Sáu Lotus' nói chuyện kết nối nông dân

Tháng 6.2026, thêm một cuốn sách của ông Lê Minh Hoan - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp - ra mắt công chúng. "Mỗi nghề một bông hoa" là những ghi chép súc tích, trân trọng giá trị lao động từ quan sát đa chiều của một chính khách.

Cuộc trò chuyện của ông với Người Đô Thị không dừng lại ở các trang sách hay những dự án khuyến đọc mà mở ra những thang bậc khác của đời sống: vai trò vốn xã hội với thực trạng “tình làng nghĩa xóm” hôm nay hay câu chuyện đồng quản lý, khát vọng đồng kiến tạo, cho đến hành trình tìm lại phẩm giá cho những người lao động bình dị... Qua đây, bạn đọc cũng có cơ duyên biết thêm quan điểm hành động của “Sáu Lotus” như “Viết là để tỉnh thức chính mình”, “Cái vô hình mới là cái có chiều sâu” và nỗ lực bền bỉ để mỗi người dân tự đứng trên đôi chân mình.

Chữa đố kỵ bằng “vốn vô hình” và “tinh thần hùn hạp”

Tác phẩm mới ra mắt là minh chứng sống động của dự án “Đọc sách cùng Xích Lô” do ông sáng lập. Bền bỉ cho một tủ sách, hoạt động gieo mầm tri thức là điều không thường thấy ở quan chức vốn bận rộn với chính sách vĩ mô?

Ông Lê Minh Hoan trò chuyện với Người Đô Thị tại tòa soạn TP.HCM ngày 7.7.2026. Ảnh: Trung Dũng

Ông Lê Minh Hoan trò chuyện với Người Đô Thị tại tòa soạn TP.HCM ngày 7.7.2026. Ảnh: Trung Dũng

Cứ đến ngày Văn hóa đọc, chúng ta lại thấy những bài phân tích với các con số thống kê so sánh tỷ lệ đọc sách của người Việt với nước ngoài. Dư luận lại xôn xao, ồn ào, bộc lộ sự bức xúc về tình trạng người Việt ít đọc sách. Sau đó mọi chuyện lại chìm đi. Có người còn nói rằng ngay cả thầy cô giáo còn ít đọc thì làm sao khuyên học sinh. Chuyện đó là có thật. Chính tôi đã từng trao đổi với các giáo viên về vấn đề này và thấy rằng có vẻ như người ta đã vội vã khi kết luận văn hóa đọc của Việt Nam mình quá thấp. 

Vấn đề cốt lõi nằm ở câu hỏi: người ta đọc cái gì? Chúng ta thiếu sách phù hợp với từng đối tượng. Nếu trách cứ thì các bên sẽ trách nhau rất nhiều. Vì vậy tôi đã kêu gọi các doanh nghiệp tài trợ cho việc viết sách, trước tiên tập trung vào hai đối tượng đang rất khát tri thức nhưng lại thiếu sách trầm trọng là trẻ em và nông dân.

Hãy nhìn xem những bộ truyện tranh của Nhật Bản như chú mèo máy Doraemon đã tạo ra một câu chuyện lớn, một hiệu ứng sâu rộng cho cả một đất nước như thế nào. Gần đây chúng ta đã có nhiều cải thiện, đã có một số lượng sách khá hơn dành cho thiếu nhi. Tuy nhiên để thực sự tạo nên thay đổi, cần phải có nhiều cách thức mang đến nhiều lựa chọn hơn nữa.

Nông dân là số đông của xã hội nhưng nếu không cẩn thận chúng ta sẽ để bà con bị nhốt trong một “ốc đảo tri thức”, cứ “xà quần” mãi với “được mùa mất giá”, chặt cây này, trồng cây kia cứ lặp đi lặp lại như một lời nguyền. Và chính từ đó xã hội nông thôn bắt đầu nảy sinh vô vàn vấn đề gây bức xúc.

Ông Lê Minh Hoan

Đối với khu vực đô thị, các giai tầng sinh viên, chuyên gia hay các nhà kinh tế có thể tìm thấy rất nhiều sách để đọc nhưng đa phần lại là sách dịch, đặc biệt các loại sách khởi nghiệp, quản trị doanh nghiệp. Nhưng nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một mảng đề tài lớn chưa có nhiều trên kệ sách. Tôi luôn tự hỏi tại sao người Việt Nam không viết để kể lại những câu chuyện của chính mình?

Tôi từng đọc cuốn Quả táo thần kỳ của Kimura kể về một lão nông trồng táo ở Nhật Bản. Cuốn sách ấy có một chi tiết đắt giá. Lúc thất vọng và chán chường nhất, ông ấy đã đi ra thư viện làng. Tại đó ông tình cờ thấy trên tủ sách cuốn Cuộc cách mạng một - cọng - rơm vốn cũng là tác phẩm của một nông dân Nhật Bản khác.

Chi tiết đó làm tôi liên tưởng ngay tới xã hội nông thôn của chúng ta. Làm sao nông dân mình có được những cuốn sách như thế để mà đọc? Các nhà khoa học, chuyên gia thường viết sách dạy kỹ thuật, dạy cách nuôi con này, trồng cây kia. Nhưng loại sách để “chuyển hóa” người làm nông, giúp bà con tự tin hơn, mang lại một cái nhìn khác về nông nghiệp, nông thôn và nhìn thẳng vào bản thân nông dân với những thành công lẫn thất bại thì lại không nhiều.

Chúng ta hay nói “lấy người dân làm trung tâm”. Nhưng nhiều khi chúng ta chưa thực sự hiểu rõ làm như thế nghĩa là làm gì? Chúng ta biết nhiều về nông nghiệp, nông thôn, nhưng việc nâng cao năng lực để nông dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi thì quá thiếu sách vở. Đa phần sách mang tính chất lý thuyết nặng nề, còn sách khoa học thường thức minh họa bằng những câu chuyện thực tế thì rất hiếm.

Nông dân là số đông của xã hội nhưng nếu không cẩn thận chúng ta sẽ để bà con bị nhốt trong một “ốc đảo tri thức”, cứ “xà quần” mãi với “được mùa mất giá”, chặt cây này, trồng cây kia cứ lặp đi lặp lại như một lời nguyền. Và chính từ đó xã hội nông thôn bắt đầu nảy sinh vô vàn vấn đề gây bức xúc. Quan trọng nhất của việc đọc sách là để biết mình chưa đủ, biết mình đang nhỏ bé thì mới có ước mơ để lớn lên.

Ông Lê Minh Hoan trò chuyện cùng các em học sinh, sinh viên về tuyển tập Mỗi nghề một bông hoa của ông, tại lễ hội Sen Đồng Tháp lần thứ III diễn ra tại phường Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), ngày 21.6.2026. Ảnh: Nguyên Hành

Ông Lê Minh Hoan trò chuyện cùng các em học sinh, sinh viên về tuyển tập Mỗi nghề một bông hoa của ông, tại lễ hội Sen Đồng Tháp lần thứ III diễn ra tại phường Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), ngày 21.6.2026. Ảnh: Nguyên Hành

Đó là lý do ông quyết định cầm bút, lấy bút danh Xích Lô, viết những câu chuyện bình dị gửi đến bà con, nhưng thưa ông tại sao lại là Xích Lô? 

Tôi đi gặp các nhà khoa học, hỏi vì sao không viết những loại sách thường thức cho nông dân. Họ bộc bạch sự ngần ngại vì đã quen viết theo lối đề tài nghiên cứu. Những kiến thức hàn lâm đó làm sao bà con đọc được. Thế là tôi tự nhủ phải cố gắng chuyển ngôn ngữ hàn lâm thành ngôn ngữ đời thường, viết ngắn gọn hai - ba trang giấy để chia sẻ cho nông dân ở các hội quán khắp cả nước. Tôi tự dặn lòng viết làm sao đừng để người ta sợ, cái gì cao quá mình phải viết “thấp xuống” để người ta thấy mình có thể với tới, lấy được liền.

Còn tại sao là Xích Lô thì cũng có chút thêu dệt cho vui. Thật ra tôi là con thứ sáu trong gia đình. “Sáu” trong tiếng Anh là “six”. Rồi ngày trước ở Đồng Tháp, tôi từng đưa ra ý tưởng “giấc mơ sen”. Sen là “lotus”. Người ta hay gọi tôi là “Sáu Lotus”, ghép “six” và “lotus” lại thì đọc trại thành Xích Lô. Nhưng sâu xa hơn là chiếc xích lô chỉ chạy tới chứ không lùi và có thể “chở” từ người nông dân, các bạn khởi nghiệp cho đến sách vở hay nông sản.

Trước tôi thường mở đầu các bài viết bằng cụm từ “Câu chuyện...” vì nghe rất nhẹ nhàng. Có thể mượn chuyện ở miền Bắc để nói về miền Nam, mượn nông dân miền Nam để nói về nông dân miền Trung, từ đó nói chuyện cho nông dân cả nước. Dần dần tôi chuyển sang viết sách ngụ ngôn, nó rất hay ở chỗ không chỉ đích danh một ai. Nếu mình phê bình thẳng một ông nông dân bảo thủ, ông ấy sẽ giãy nảy ngay lập tức. Nhưng nếu dùng ngụ ngôn, mấy bác nông dân đọc xong sẽ gật gù “à… à, hình như có mình ở trong đó” như một lời nhắc nhở rất nhẹ nhàng.

Viết ngụ ngôn không chỉ cho người lớn mà còn cho trẻ con. Khi ta muốn truyền tải những khái niệm to tát như phát triển bền vững, đa dạng sinh học hay biến đổi khí hậu, nếu dùng từ ngữ đao to búa lớn, người ta sẽ sợ. Nhưng khi chuyển tải qua ngụ ngôn, câu chuyện trở nên dễ tiếp nhận. Vui nhất là các em thiếu nhi ở Đồng Tháp đã tự tổ chức một cuộc thi vẽ tranh dựa trên các câu chuyện ngụ ngôn của “bác Xích Lô”. Những nét vẽ vô cùng mộc mạc và dễ thương. Chữ của Xích Lô, tranh của thiếu nhi. Chúng tôi đang rà soát khâu cuối cùng để chuẩn bị in cái này thành sách.

Từ phải: ông Ngô Vũ Thăng (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau) đưa ông Lê Minh Hoan đến tham quan mô hình nuôi tôm công nghệ cao tuần hoàn tại xã Gành Hào ngày 8.5.2026. Ảnh: Kiều Ngân

Từ phải: ông Ngô Vũ Thăng (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau) đưa ông Lê Minh Hoan đến tham quan mô hình nuôi tôm công nghệ cao tuần hoàn tại xã Gành Hào ngày 8.5.2026. Ảnh: Kiều Ngân

Đọc lướt qua những tác phẩm của ông, thấy có một vấn đề xuyên suốt là ông đặt nặng tình làng nghĩa xóm, cách ứng xử, nền tảng đạo đức. Theo quan sát của ông, đó có phải là những vấn đề bức xúc nhất ở nông thôn hiện nay?

Đây thực sự là một vấn đề rất lớn của xã hội nông thôn hiện đại. Nếu chỉ trực cảm, nhìn vào chúng ta sẽ thấy mọi thứ bình thường. Đám tiệc hay buổi tiếp xúc cử tri bà con vẫn ngồi với nhau. Nhưng chỉ cần một “khua động” nhẹ là sự thật sẽ lộ ra. Đó là một cái bẫy cản trở chúng ta đi xa. Tôi đã hỏi chuyện riêng với nhiều nông dân, bà con cũng thừa nhận thực trạng này.

Xã hội đô thị thì khác, còn ở nông thôn, chỉ cần con gà nhà này chạy qua bươi đám rau nhà kế bên là sinh chuyện. Hai đứa học sinh đi học về chơi đùa nghịch ngợm rồi đánh lộn với nhau, hai gia đình nhảy ra binh vực con mình, thế là cãi vã. Mọi thứ cứ dồn nén, đến một ngày sẽ bùng nổ thành những bức xúc, dẫn đến bạo lực, bạo hành. Đừng tự an ủi rằng người tốt còn nhiều, cái xấu chỉ là thiểu số. Tuyệt đối không được quên cái thiểu số đó.

Vấn đề cốt lõi xuất phát từ sự phân tầng xã hội cao. Khi xưa, như Hàn Quốc làm chương trình Làng Mới (Saemaul Undong) năm 1969, xã hội họ nghèo đều nên rất dễ đoàn kết. Còn hiện nay ở làng quê Việt Nam, có người vượt lên làm giàu, có người nghèo đi. Sự phân tầng này dễ dẫn tới thái độ so đo, đố kỵ, hẹp hòi, khích bác và dòm ngó nhau. Người nghèo thì bảo ông giàu luồn lách, buôn gian bán lận mới có tiền. Người giàu thì chỉ trích người nghèo  không lo chí thú làm ăn. Chính điều này làm cho nhiều chính sách khi đưa xuống dễ bị “dội” lại. Ưu ái người giàu thì bị nói nhà nước bỏ rơi người nghèo. Ưu tiên người nghèo thì người giàu lại phản ứng bảo nhà nước đổ tiền vào cái thùng không đáy. Điều này tạo ra mối nguy lớn chia rẽ cộng đồng.

Tôi mở ra mô hình hội quán là để kéo mấy bác nông dân - cả người khá giả, cả người còn khó khăn ngồi chung một bàn, trong một không gian chung, giúp bà con gần gũi nhau, tôn trọng nhau và vượt qua sự đố kỵ đời thường. Khẩu hiệu của hội quán nông dân rất đơn giản: “Nói cho người khác nghe và nghe người khác nói”.

Ông Lê Minh Hoan

Khi nhận diện được vấn đề, tôi bắt đầu viết về “vốn xã hội”, “vốn văn hóa” và viết ở tầng cốt lõi là làng quê. Mọi giá trị không chỉ nằm ở cái hữu hình như ngân sách, nhà máy, công trình… mà cái vô hình mới là cái có chiều sâu. Chúng ta hay lo cái “cốt” mà quên mất cái “hồn”. Cái vô hình ở đây chính là niềm tin. Đó là vốn xã hội. Một cộng đồng đoàn kết, có niềm tin vào nhau hoàn toàn khác với một cộng đồng rã rời.

Tôi mở ra mô hình hội quán là để kéo mấy bác nông dân - cả người khá giả, cả người còn khó khăn ngồi chung một bàn, trong một không gian chung, giúp bà con gần gũi nhau, tôn trọng nhau và vượt qua sự đố kỵ đời thường. Khẩu hiệu của hội quán nông dân rất đơn giản: “Nói cho người khác nghe và nghe người khác nói”.

Ông bà ta có những từ ngữ rất ngộ. Thay vì dùng những từ to tát như hợp tác làm ăn, tôi dùng chữ hùn hạp. Nông dân nghe hùn hạp là chịu liền. Tôi “chiết tự” ra, muốn hạp thì phải hùn, muốn hùn thì phải hạp, không hạp nhau thì không thể hùn với nhau. Một bài viết giản dị như vậy mấy bác nông dân đọc thấy “ờ phải rồi”. Mà muốn hạp nhau thì đâu thể mỗi người ngồi một nhà, phải có không gian chung để ngồi lại. Hội quán chính là không gian đó.

Hội quán là một cách triển khai “vốn xã hội”. Ban đầu tôi làm cũng có ý kiến trái chiều. Mẹ tôi hỏi: “Nghe người ta nói con muốn làm giảm vai trò đoàn thể hả, con làm hội quán hả?”. Tôi biết trong nội bộ đã có phản ứng. Nhưng vượt qua tất cả, Hội quán nông dân Đồng Tháp đã tương đối thành công và vinh dự được đón tiếp các lãnh đạo cao nhất, từ Tổng Bí thư, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội đến Thường trực Ban Bí thư về thăm. Nhà nước muốn làm tốt hơn thì cần khơi dậy được vốn xã hội này.

Tử tế có cái giá của nó

Ông đã nói đến sự thiếu vắng niềm tin. Trong bối cảnh nguồn lực nhà nước luôn có giới hạn, đâu là chìa khóa giúp cho “kỷ nguyên vươn mình” không chỉ là một khẩu hiệu?

Hãy nhìn vào thực tế bộ máy hành chánh của chúng ta. Một xã sau khi sáp nhập có thể lên tới 40.000 - 50.000 dân nhưng bộ máy biên chế chỉ khoảng 50 người. Mỗi phòng ban chỉ có mười mấy “ngoe” thì làm sao có thể làm được gì nếu không có sự tham gia của người dân? 

Chúng ta không thể đòi hỏi thêm bộ máy nhiều người. Vậy thì tại sao có hàng chục ngàn người dân mà không mời họ vào để cùng tham vấn, cùng kiến tạo? Tôi thường nói với bà con “Đảng dạy chúng tôi phải lo cho dân, nhưng trước hết là để làm sao người dân tự lo cho mình được, cộng đồng lo cho nhau được, sau đó mới tới việc nhà nước lo”. 

Người Đô Thị tham quan Hội quán Xích Lô do ông Lê Minh Hoan sáng lập tại Đồng Tháp, ngày 4.7.2026. Ảnh: Trung Dũng

Thế giới đã tranh luận hàng ngàn năm về vai trò của nhà nước và công dân. Ở nước ta, tư duy quản lý đôi khi vẫn lấn át tư duy kiến tạo. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo rất rõ trong Nghị quyết 66 về thay đổi thể chế, rằng luật không phải chỉ để quản lý mà để kiến tạo phát triển, luật không chỉ để chế tài mà để hướng thiện. Quản lý chỉ là một góc hẹp, chính sự kiến tạo mới tạo ra được những giá trị mới. 

Chính vì vậy chúng ta cần chuyển từ quản lý hành chánh sang quản trị xã hội. Mô hình “đồng quản lý” nguồn lợi thủy sản là một ví dụ. Hoạt động nông nghiệp, thủy sản diễn ra hàng giờ trên cánh đồng, dưới mặt sông, trên biển cả. Đêm hôm khuya khoắt thì bộ máy nhà nước nào đi kiểm tra cho xuể nếu không để người dân cùng đồng quản lý? Và cao hơn đồng quản lý là “đồng kiến tạo”. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể tham gia kiến tạo xã hội.

Nhắc đến năng lực cộng đồng, người ta nhớ đến mô hình “Tổ xây cầu từ thiện” do ông khởi xướng ở Đồng Tháp. Có vẻ như khi có cơ chế minh bạch và biết “gõ cửa”, cộng đồng sẽ mở lòng?

“Tổ xây cầu từ thiện” ra đời từ thực tế ngân sách nhà nước chỉ tập trung làm cầu lớn, còn cầu giao thông nông thôn thì thiếu thốn. Khi bắt tay vào làm, chúng tôi thành lập một tổ quy tụ những người có chuyên môn, những lãnh đạo về hưu tâm huyết.

Chúng ta không thể đòi hỏi thêm bộ máy nhiều người. Vậy thì tại sao có hàng chục ngàn người dân mà không mời họ vào để cùng tham vấn, cùng kiến tạo? Tôi thường nói với bà con “Đảng dạy chúng tôi phải lo cho dân, nhưng trước hết là để làm sao người dân tự lo cho mình được, cộng đồng lo cho nhau được, sau đó mới tới việc nhà nước lo”. 

Ông Lê Minh Hoan

Điểm mấu chốt của mô hình này là sự minh bạch tuyệt đối. Nếu một cây cầu cần 250 triệu đồng, nhưng huy động được 280 triệu đồng, tổ xây cầu từ thiện công khai thông báo số tiền dư 30 triệu đồng. Số dư này sẽ được giữ lại để “đắp” vào những cây cầu sau nếu có dự án bị thiếu kinh phí. Nhờ cách làm minh bạch này, chúng tôi đã xóa được vô số cầu khỉ, cầu tạm. 

Tôi cũng quan sát cách làm từ thiện của nhiều nhóm thiện nguyện hiện đại. Họ không cần trụ sở, không cần giấy tờ hành chánh phức tạp. Chỉ với một nhóm liên kết nhờ mạng xã hội, khi khảo sát thấy một trường học ở Đồng Tháp cần 1 tỷ đồng để xây mới, họ nhắn tin kêu gọi. Trong 2 tuần, họ thu được hơn 1 tỷ đồng và thông báo ngưng nhận đóng góp. Không nhận thừa, không lập quỹ tồn đọng để tránh bị lạm dụng. Đặc biệt, nhóm quy định những người đi thực địa khảo sát hay khánh thành phải tự lo chi phí, không được đụng chạm vào quỹ từ thiện. Mô hình ấy (nhóm Sharing) đã tồn tại vững bền 20 năm nay và sắp tới họ còn khánh thành một sân chơi 1,8 tỷ đồng cho trẻ em vùng biên giới miền Tây. Đó chính là sức mạnh của cộng đồng khi được “đồng kiến tạo” dựa trên nền tảng của sự minh bạch và tử tế.

Tựa đề cuốn sách Mỗi nghề một bông hoa gợi lên những suy ngẫm về giá trị lao động. Nhưng làm cách nào để giữ được sự thấu cảm chân thành mà không rơi vào bẫy ngợi ca suông nỗi khổ của người lao động?

Chúng ta đang thiếu việc truyền đạt giá trị và phẩm giá của từng nghề nghiệp. Khi dạy nghề ta thường chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức chuyên môn mà bỏ quên việc khơi gợi lòng tự hào nghề nghiệp. Bất kỳ công việc nào cũng có đóng góp cho xã hội. Nhận thức được điều này giúp chúng ta nhìn nhau bằng ánh mắt trân trọng, tránh rơi vào cái bẫy “phân tầng đẳng cấp” qua lăng kính nghề nghiệp.

Lấy ví dụ giá trị của nghề giao hàng (shipper). Nhiều người vẫn xem đây là nghề thấp kém. Nhưng thử tưởng tượng một buổi sáng ở Sài Gòn mà không có shipper thì sẽ ra sao? Tầm quan trọng của họ đối với chuỗi vận hành xã hội là rất lớn. Nếu người lao động không tự thấy được giá trị công việc của mình, họ sẽ chỉ làm việc vì sinh kế mà thiếu đi ý thức trau dồi. Khi chính bản thân người lao động không tự hào về nghề, xã hội cũng mặc nhiên coi đó là công việc thấp kém.

Tôi từng tiếp một doanh nhân Nhật Bản 78 tuổi. Khi trò chuyện tôi bày tỏ sự cảm phục đối với nhân vật Oshin - hình mẫu người phụ nữ đi lên từ nghèo khó. Không ngờ nghe xong ông xúc động rơi nước mắt. Ông nói người Nhật rất đau lòng khi thấy người Việt Nam thường dùng từ “Oshin” để gọi người giúp việc với hàm ý coi rẻ, khinh khi. Ở Nhật Bản, Oshin là một biểu tượng quốc gia về sự nỗ lực vươn lên. Người Nhật quan niệm không có nghề nào thấp kém, chỉ cần tận tâm thì ai cũng có thể thành công. 

Khi viết “không có nghề thấp kém, chỉ có những câu chuyện nghề chưa được kể”, liệu điều đó tác động thế nào đến các quyết sách khi ông còn giữ vai trò dẫn dắt trong bộ máy nhà nước?

Sự thay đổi không thể diễn ra đồng loạt trong một sớm một chiều mà cần những hiệu ứng lan tỏa. Tôi kỳ vọng qua những bài như thế này, lăng kính thấu cảm sẽ được nhân rộng để tất cả chúng ta cùng tham gia kiến tạo xã hội.

Đã có những tín hiệu đáng mừng. Điển hình là các trường nghề thuộc Bộ hiện đã thay đổi tư duy đào tạo. Trước khi truyền thụ kiến thức chuyên môn, các trường giảng dạy những bài học về giá trị và niềm tự hào nghề nghiệp. Từ những bước đi nhỏ này các giá trị tốt đẹp sẽ dần được nhân ra.

Ông Lê Minh Hoan giới thiệu một số sách mới với nhà báo Trần Trung Chính (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng; thường trực Ban tư vấn Người Đô Thị). Ảnh: Trung Dũng

Ông Lê Minh Hoan giới thiệu một số sách mới với nhà báo Trần Trung Chính (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng; thường trực Ban tư vấn Người Đô Thị). Ảnh: Trung Dũng

Sự thay đổi góc nhìn mang lại hiệu quả rất rõ rệt. Một số chủ doanh nghiệp ở TP.HCM từng chia sẻ với tôi rằng chỉ sau nửa tháng họ thay đổi cách đối xử, nhân viên đã trở nên vui vẻ và lạc quan hơn hẳn. 

Nhiều lúc tôi cũng thấy việc mình làm giống như “ném đá ao bèo”. Nhưng tôi luôn tâm niệm: “Đừng ngồi đó than trời tối, hãy tự thắp lên một ngọn nến”. Viết sách tưởng như là viết cho người khác nhưng sâu xa cũng là viết cho chính mình. Đó là cách để tôi tỉnh thức chính mình, nhắc nhở bản thân không vô tình rơi vào những định kiến hẹp hòi. Khi giải tỏa được những uẩn khúc ấy, lòng sẽ thấy nhẹ nhàng vô cùng.

Cuốn sách mới của ông khơi dậy niềm tin rằng mỗi con người khi làm nghề bằng sự tử tế và lòng tự trọng đều đang cống hiến và giúp ích cho đời. Tuy nhiên sự lãng mạn này có đủ sức lý giải hay an ủi cho những thực tế khó khăn, khắc nghiệt, thậm chí thất bại của “người lao động” tử tế, tự trọng?

Có lần tôi viết bài Tử tế nó có giá. Sau đó một nông dân ở Tây Nguyên “đá xéo” tôi. Ổng viết trên báo rồi gửi lên cả Bộ rằng: “Ông Bộ trưởng nói thì nghe hay lắm. Tôi làm tử tế mà thương lái họ mua cũng y vậy thôi”.

Muốn đào cái giếng cho sâu thì cái miệng giếng phải rộng. Đừng sống mãi trong chiếc ao nghề của mình.

Ông Lê Minh Hoan

Thành ra tôi nói cái cần thay đổi không thể thay đổi được liền. Cái gì cũng phải có niềm tin và sự kiên trì. Dù khó thì mình cũng nghĩ nó không quá khó. Người ta làm được thì mình làm được. Đừng bao giờ đợi mọi thứ đầy đủ rồi mới làm. Đợi khi nào mới đủ? Hãy bắt đầu từ cái nhỏ lên cái lớn, từ cái ít lên số nhiều. Sự thay đổi không bao giờ là dễ dàng nhưng nó cũng không quá khó đến mức bất khả thi. Tôi nhắc lại người ta làm được thì mình làm được. Đừng đợi mọi thứ đầy đủ mới làm. Hãy bắt đầu từ cái nhỏ lên cái lớn, từ cái ít lên số nhiều. 

Hãy đọc sách để biết mình chưa đủ, biết mình đang nhỏ bé thì mới có khát vọng lớn lên. Và cuối cùng, thế giới này có 8 tỷ người, hàng ngày họ sáng tạo ra muôn vàn câu chuyện, xin đừng tự mãn quá sớm và cũng đừng bao giờ “lủi thủi một mình”. Hãy kết nối, cộng tác và cùng nhau đồng kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn. 

Nhìn lại hành trình từ việc cổ vũ văn hóa đọc đến viết sách, xây cầu, kết nối cộng đồng, ông đánh giá đâu là rào cản lớn nhất ngăn cản sự thay đổi của chúng ta? 

Rào cản lớn nhất nằm ở tư duy “bẫy chuyên môn sâu”. Học giả Nguyễn Hiến Lê từ năm 1950 đã ví những người mắc bẫy chuyên môn sâu giống như con ngựa bị che hai bên mắt, chỉ nhìn thấy con đường thẳng phía trước mà không thấy hệ sinh thái xung quanh. Hay như một người ngồi trong phòng kín nhìn ra ô cửa sổ nhỏ xíu lại lầm tưởng đó là toàn bộ bầu trời. 

Một quy hoạch đô thị tốt không chỉ cần kỹ sư xây dựng, cấp thoát nước, mà cần cả chuyên gia xã hội học, phương Đông học, tôn giáo học như cách các đơn vị tư vấn nước ngoài đang làm. Giáo dục cũng cần sự khai phóng, hay tôi dùng từ nhẹ hơn là cởi mở, để con người nhìn vấn đề đa chiều. Muốn đào cái giếng cho sâu thì cái miệng giếng phải rộng. Đừng sống mãi trong chiếc ao nghề của mình.

Xin cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện rất gợi mở này. 

Quốc Ngọc thực hiện

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/nghe-ong-sau-lotus-noi-chuyen-ket-noi-nong-dan-53543.html