Nghị định 335: Những ai thuộc diện hưởng trợ giúp xã hội?
Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định các nhóm thuộc diện hưởng chính sách trợ giúp xã hội, trong đó có trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và người đơn thân nghèo nuôi con.
Chính phủ ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội. Nghị định có hiệu lực từ ngày 5/10/2026.
Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026 (Ảnh minh họa).
Mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng
Theo Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng.
Mức chuẩn này là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội; mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác.
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương bảo đảm, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn và mức trợ giúp xã hội trên địa bàn cao hơn mức quy định tại Nghị định.
Địa phương cũng có thể quyết định chính sách trợ giúp xã hội đối với những đối tượng khó khăn khác chưa được quy định tại Nghị định.
Những nhóm thuộc diện hưởng chính sách trợ giúp xã hội
Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định các đối tượng thuộc diện hưởng chính sách trợ giúp xã hội.
Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi thuộc những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 5. Trong đó có trẻ bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi và các trường hợp liên quan đến tình trạng của cha, mẹ được quy định cụ thể tại Nghị định.
Người thuộc nhóm này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, khi đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học, có thể tiếp tục được hưởng chính sách cho đến khi kết thúc học nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 5.
Thứ hai, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
Thứ ba, người đơn thân nghèo nuôi con. Đây là người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; hoặc đã có chồng, vợ nhưng người đó đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi.
Trường hợp đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà người con đủ 16 tuổi và tiếp tục học, việc tiếp tục hưởng trợ cấp được thực hiện theo các điều kiện cụ thể tại khoản 4 Điều 5.
Thứ tư, người cao tuổi thuộc một trong hai trường hợp được Nghị định quy định.
Một là, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Hai là, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.
Thứ năm, người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.
Thứ sáu, trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều 5, đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.
Thứ bảy, người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026.
Nguồn Công Lý: https://congly.vn/nghi-dinh-335-nhung-ai-thuoc-dien-huong-tro-giup-xa-hoi-535943.html

