Nghị quyết 36-NQ/TW phản ánh cách nhìn nhân văn, phù hợp thực tiễn của Đảng

Nghị quyết 36-NQ/TW phản ánh cách nhìn chín muồi, nhân văn và phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế, góp phần củng cố niềm tin, mở rộng đồng thuận và tăng cường sức mạnh tổng hợp của cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước.

Hơn hai thập kỷ kể từ khi Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được ban hành, cộng đồng kiều bào ở khắp năm châu đã chứng kiến và cảm nhận rõ những đổi thay sâu sắc, bền bỉ. Không chỉ là một văn bản định hướng chính sách, Nghị quyết 36 đối với nhiều người Việt xa xứ còn là sự khẳng định rằng họ luôn là một bộ phận không tách rời của dân tộc, được Tổ quốc quan tâm, trân trọng và kỳ vọng đồng hành.

Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08 ngày 29/11/1993. Tuy nhiên, nghị quyết này chủ yếu mang tính chất nội bộ, tập trung vào việc định hướng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại trong bối cảnh đất nước bắt đầu tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Mục tiêu khi đó là tác động, vận động cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống tại nhiều quốc gia trên thế giới, song chưa có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, cơ quan liên quan, và vì vậy đồng bào ta ở nước ngoài cũng chưa được tiếp cận đầy đủ nội dung của nghị quyết.

Chính trong bối cảnh đó, sự ra đời của Nghị quyết 36-NQ/TW đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng về tư duy và phương thức tiếp cận, tạo ra khuôn khổ chính sách rõ ràng, công khai và đồng bộ hơn cho công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hội nhập sâu rộng và lâu dài.

Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, Đảng, Nhà nước ngày càng quan tâm, tạo điều kiện để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phát triển. Sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong nước với đồng bào ta ở nước ngoài ngày càng được củng cố, chặt chẽ và thực chất hơn.

Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài như Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam đã nới lỏng điều kiện nhập và trở lại quốc tịch cho kiều bào; Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng nhiều luật khác như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản...

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã phát triển mạnh cả "về lượng và chất". Từ khoảng 2,7 triệu người ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2004, đến nay đã có gần 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài tại trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện, có 17 cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp trí tuệ xây dựng các chủ trương, chính sách chiến lược của đất nước như đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hàng năm kiều bào gửi về nước khoảng 15 tỷ USD kiều hối. Bà con từ 35 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư về nước 457 dự án, với tổng vốn đăng ký 1,729 tỷ USD tại 26/34 địa phương trên cả nước.

Với khoảng 600.000 người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ từ đại học trở lên, các trí thức, nhà khoa học, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài đã tham gia tích cực đóng góp phát triển các lĩnh vực trong nước, nhất là về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Trong đó, đã thành lập 10 mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyên gia Việt Nam tại 22 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 2.000 thành viên.

Đại sứ Nguyễn Phú Bình - Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đánh giá: “Nghị quyết 36 thực sự là một bước đột phá về tư duy. Lần đầu tiên, các quan điểm, chủ trương và chính sách liên quan đến công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được công khai một cách đầy đủ, minh bạch, để đồng bào ta ở xa Tổ quốc không chỉ được biết, được tiếp cận, mà còn trở thành những người trực tiếp thụ hưởng các chính sách đó”.

Nội dung của Nghị quyết 36 mang tính bao trùm, gắn với quan điểm đại đoàn kết dân tộc – một vấn đề xuyên suốt, không chỉ trong nước mà cả ngoài nước. Nghị quyết đã khẳng định rõ ràng rằng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước, đồng thời là nhân tố có ý nghĩa chiến lược trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.

Đáng chú ý hơn cả, Nghị quyết 36 đã vượt lên trên những khác biệt của quá khứ. Dù đồng bào ra đi trong những hoàn cảnh nào, vì những lý do gì, hay xuất thân, thành phần xã hội ra sao, tất cả đều có vị trí xứng đáng trong “ngôi nhà chung” của khối đại đoàn kết dân tộc, miễn là gắn bó với quê hương, hướng về Tổ quốc và sẵn sàng chung tay xây dựng, bảo vệ đất nước. Chính tinh thần cởi mở, nhân văn và bao dung ấy đã tạo nên sức lan tỏa rộng khắp, mang lại niềm tin, sự đồng thuận và niềm phấn khởi trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Trước đây, trong cách tiếp cận đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, chúng ta thường nhìn đồng bào chủ yếu như một “đối tượng” cần tác động. Trong khi đó, thực tế cho thấy cộng đồng người Việt ở nước ngoài có sự đa dạng về hoàn cảnh lịch sử, môi trường sống, điều kiện chính trị – xã hội và mức độ gắn bó với quê hương. Có những địa bàn, đồng bào ở đó đã gắn bó mật thiết với đất nước từ rất lâu; nhưng cũng có những nơi cộng đồng người Việt chịu ảnh hưởng của lịch sử, của những khác biệt nhận thức, thậm chí của các luồng thông tin và tuyên truyền không thuận lợi, dẫn tới những cách nhìn và thái độ rất khác nhau.

Chính vì vậy, điểm đổi mới căn bản trong tư duy là sự chuyển biến từ cách nhìn mang tính phân loại, khép kín sang cách tiếp cận rộng mở, bao dung và thực tế hơn. Theo tinh thần đó, ngoại trừ một số rất ít trường hợp cố tình đối lập, đi ngược lại lợi ích của đất nước, thì đại đa số đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài đều được thừa nhận có vị trí và vai trò trong khối đại đoàn kết dân tộc. Mỗi người, với mức độ và cách thức khác nhau, đều có thể tìm được chỗ đứng của mình trong mối quan hệ gắn bó với quê hương.

Đánh giá cao kết quả của Nghị quyết 36, ông Nguyễn Hoài Bắc - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng Nghị quyết 36 giống như kim chỉ nam để định hướng mọi chiến lược về quan hệ kinh tế của trong nước với bà con kiều bào và của bà con kiều bào với chính quyền ở trong nước; từ đó có thêm nhiều nghị định, thông tư, hướng dẫn phù hợp, thuận lợi hơn cho bà con có nhiều điều kiện trở về Việt Nam để đầu tư phát triển kinh doanh và thăm thân.

Bà Hanah Huyền Vũ, Chủ tịch Mạng lưới Tài năng Việt-Australia, Giám đốc đối ngoại Đại học Tây Australia thì nhận định, Nghị quyết 36 đã tạo ra một “đường ray” chính sách rất quan trọng: đưa công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trở thành một phần của chiến lược đại đoàn kết, hội nhập và phát triển quốc gia, chứ không chỉ là những hoạt động riêng lẻ.

Kết quả lớn nhất là niềm tin và sự gắn kết được củng cố. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực và một đối tác đồng hành. Điều này thể hiện ở việc các kênh kết nối mở rộng hơn, hoạt động cộng đồng phong phú hơn, và đặc biệt là sự tham gia của kiều bào vào những lĩnh vực thiết thực: đầu tư, tri thức – công nghệ, văn hóa – giáo dục, ngoại giao nhân dân.

“Từ góc nhìn của tôi ở Australia cũng thấy rõ một thay đổi quan trọng: Từ ‘vận động’ sang ‘đồng hành’. Khi Nhà nước và các cơ quan đại diện lắng nghe hơn, tạo không gian tham gia nhiều hơn, thì cộng đồng cũng chủ động đóng góp mạnh hơn - không chỉ bằng tiền bạc mà bằng tri thức, chuẩn mực quản trị, mạng lưới quốc tế”, bà Hanah Huyền Vũ nói.

Cùng chung quan điểm, doanh nhân Nguyễn Đồng Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp Hội Người Việt Nam tại Châu Âu, Việt kiều ở Slovakia nói: “Điều quan trọng là cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày nay không chỉ đơn thuần hướng về quê hương theo nghĩa tình cảm, mà đã, đang và sẽ ngày càng trở thành một lực lượng đồng hành cùng dân tộc, cùng đất nước trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, tôi cho rằng Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị được ban hành rất đúng thời điểm, có chiều sâu, thấm nhuần thực tiễn và đáp ứng đúng những nguyện vọng chính đáng của bà con kiều bào hướng về quê hương”.

Còn theo bà Tạ Thùy Liên, Trưởng ban liên lạc cộng đồng người Việt Nam tại Singapore, kết quả lớn nhất sau hơn 20 năm triển khai Nghị quyết 36 không chỉ nằm ở số lượng văn bản, chương trình hay hoạt động, mà ở sự thay đổi căn bản về nhận thức và niềm tin. Mối quan hệ giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã chuyển từ “kết nối một chiều” sang “tương tác hai chiều”, từ tiếp cận cảm tính sang tiếp cận dựa trên giá trị và đóng góp thực chất.

“Từ góc nhìn của cộng đồng người Việt tại Singapore, Nghị quyết 36 đã tạo điều kiện để kiều bào trí thức, chuyên gia, doanh nhân từng bước tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực mà đất nước ưu tiên như khoa học – công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo, ngoại giao nhân dân. Nhiều hoạt động kết nối không còn mang tính phong trào, mà hướng tới hiệu quả, chiều sâu và tính bền vững.

Theo bà Tạ Thùy Liên, Nghị quyết 36 đã đặt nền móng cho tư duy coi cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một phần của sức mạnh mềm quốc gia, coi kiều bào chính là cầu nối tri thức toàn cầu.

Mạng lưới chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài đang ngày càng phát triển, có khả năng liên kết với các trung tâm công nghệ, viện nghiên cứu và tập đoàn lớn trên thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với xu hướng đổi mới sáng tạo, mô hình kinh tế số, công nghệ lõi và các tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị và phát triển doanh nghiệp.

Nguồn VOV: https://vov.vn/nguoi-viet/nghi-quyet-36-nqtw-phan-anh-cach-nhin-nhan-van-phu-hop-thuc-tien-cua-dang-post1266389.vov