Ngoại giao năng lượng: Mở đường hợp tác, nâng tầm doanh nghiệp Việt

Từ bảo đảm nguồn cung đến mở rộng không gian hợp tác

Với những quốc gia phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung nhập khẩu, sự ổn định của thị trường dầu khí còn tác động trực tiếp đến mặt bằng giá cả, hoạt động sản xuất và an sinh xã hội. Những biến động địa chính trị và nguy cơ gián đoạn nguồn cung trên thị trường quốc tế tiếp tục cho thấy bảo đảm an ninh năng lượng phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Theo ông Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí không chỉ nhằm tìm kiếm lợi ích kinh tế mà còn liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia. Trong những thời điểm thị trường năng lượng biến động, hoạt động đối ngoại có vai trò thiết thực trong việc kết nối với các đối tác, thúc đẩy thực hiện những hợp đồng đã ký và tìm kiếm cam kết ưu tiên cung cấp dầu mỏ với điều kiện thuận lợi.

Ông Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Ông Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Từ góc nhìn đó, ngoại giao năng lượng cần được triển khai gắn với ngoại giao kinh tế, tận dụng các mối quan hệ chính trị và ngoại giao để mở rộng hợp tác, tìm kiếm thị trường và thu hút nguồn lực quốc tế. Việt Nam có lợi thế từ mạng lưới quan hệ đối tác rộng khắp, trong đó có nhiều quốc gia sở hữu công nghệ, kinh nghiệm và năng lực đầu tư trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng.

Ông Minh cho rằng, việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn tạo khuôn khổ để cụ thể hóa các cam kết hợp tác. Khi năng lượng được xác định là một lĩnh vực ưu tiên trong kế hoạch hành động giữa hai nước, sự ủng hộ của lãnh đạo và các cơ quan chức năng có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp hai bên tăng cường kết nối, triển khai các dự án cùng có lợi.

Tuy nhiên, lợi thế về quan hệ đối ngoại chỉ phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành những hoạt động cụ thể. Theo ông Minh, ngoại giao cần đi trước mở đường, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội tại những thị trường mới, xác định đối tác tiềm năng và thẩm định các phương án hợp tác. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần phối hợp chặt chẽ hơn với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM), nghiên cứu từng thị trường và thực hiện những nhiệm vụ phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Cách tiếp cận này đòi hỏi hoạt động xúc tiến đầu tư phải đi vào thực chất, thay vì chỉ dừng ở các hội nghị mang tính giới thiệu chung. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ tiếp cận thông tin, khảo sát thị trường, đánh giá đối tác và nhận diện rủi ro trước khi quyết định đầu tư. Bởi trong lĩnh vực dầu khí, các dự án thường có quy mô vốn lớn, thời gian triển khai dài và yêu cầu kỹ thuật cao, nên một quyết định thiếu cơ sở có thể khiến doanh nghiệp tổn thất đáng kể về nguồn lực.

Bên cạnh đó, uy tín và độ tin cậy của Việt Nam trên trường quốc tế cũng là yếu tố quan trọng để mở rộng hợp tác. Theo ông Minh, các đối tác không chỉ xem xét giá cả và hiệu quả kinh tế mà còn quan tâm đến sự ổn định chính trị, nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng và khả năng duy trì cam kết dài hạn. Vì vậy, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa PETROVIETNAM, Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sẽ giúp kết nối chính sách đối ngoại với mục tiêu phát triển ngành năng lượng.

Hoàn thiện thể chế, nâng năng lực doanh nghiệp nội địa

Nếu ngoại giao năng lượng mở đường cho hợp tác, thì thể chế và năng lực doanh nghiệp trong nước quyết định khả năng biến cơ hội thành giá trị thực tế. Đây cũng là vấn đề được Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, nhấn mạnh từ kinh nghiệm phát triển dịch vụ kỹ thuật dầu khí.

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, quá trình mở rộng thị trường quốc tế và hợp tác với các nhà thầu nước ngoài đã giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước tích lũy kinh nghiệm, tiếp nhận công nghệ và làm chủ nhiều công đoạn kỹ thuật. Từ chỗ phụ thuộc đáng kể vào nhà thầu nước ngoài trong cung cấp thiết bị và dịch vụ, doanh nghiệp trong nước đã nâng cao năng lực ở các khâu thiết kế, chế tạo, vận chuyển và lắp đặt.

Sự trưởng thành đó cho thấy hợp tác quốc tế không chỉ mang lại hợp đồng hay doanh thu, mà còn có thể tạo nền tảng phát triển công nghiệp và nguồn nhân lực trong nước. Tuy nhiên, để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, cần có cơ chế phù hợp và môi trường đầu tư đủ ổn định.

Ông Dũng cho rằng, trước hết, thể chế phải rõ ràng, cơ chế giá phù hợp và chủ trương, chính sách cần có tính ổn định lâu dài. Những dự án dầu khí và năng lượng quy mô lớn thường liên quan đến nhiều cơ quan quản lý, nhiều thủ tục phê duyệt. Nếu quá trình chuẩn bị và triển khai kéo dài, chi phí sẽ tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng cạnh tranh của các bên tham gia.

Một yêu cầu quan trọng khác là cần công bố sớm danh mục công việc, hạng mục mà doanh nghiệp trong nước có khả năng đảm nhận tại các dự án lớn, công trình quan trọng quốc gia. Khi nắm được thông tin từ đầu, doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị nhân lực, công nghệ, thiết bị và phương án liên kết. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về những doanh nghiệp đã có kinh nghiệm, đủ năng lực thực hiện để chủ đầu tư và nhà thầu có căn cứ lựa chọn.

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng không đồng nghĩa với bảo hộ bằng mọi giá. Việc lựa chọn nhà thầu vẫn phải dựa trên năng lực thực tế, hiệu quả và nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng. Điều cần thiết là tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia từ sớm, có điều kiện tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng lực thông qua những dự án thực tế.

TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam trao đổi tại Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” ngày 29/10.

TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam trao đổi tại Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” ngày 29/10.

Bên cạnh cơ chế của Nhà nước, bản thân doanh nghiệp cũng phải chủ động đổi mới, tiết giảm chi phí, đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và bảo đảm an toàn trong quá trình triển khai. Với các dự án có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia, cần xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi và phạm vi công việc của từng bên, qua đó hạn chế vướng mắc và hình thành liên kết bền vững.

Từ hai góc nhìn, ngoại giao và doanh nghiệp, có thể thấy hợp tác quốc tế chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái chính sách đồng bộ. Quan hệ đối tác tạo điều kiện tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn vốn; thể chế ổn định giúp nhà đầu tư yên tâm triển khai dự án; còn năng lực doanh nghiệp trong nước quyết định phần giá trị mà nền kinh tế có thể giữ lại.

Đình Khương

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/ngoai-giao-nang-luong-mo-duong-hop-tac-nang-tam-doanh-nghiep-viet-747310.html