Ngôi vương vốn điều lệ ngành chứng khoán liên tục đổi chủ
TCBS và SSI liên tục đổi ngôi đầu về vốn điều lệ, trong khi các công ty chứng khoán nội tăng tốc mở rộng quy mô, còn khối ngoại duy trì lợi thế nhờ nguồn lực từ công ty mẹ…

Cuộc đua tăng vốn điều lệ trong ngành chứng khoán tiếp tục sôi động khi nhiều doanh nghiệp liên tiếp hoàn tất các đợt phát hành quy mô lớn.
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TĂNG TỐC CUỘC ĐUA VỐN
Theo thông tin công bố mới đây, Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) đã hoàn tất phát hành gần 555 triệu cổ phiếu để trả cổ tức, qua đó nâng vốn điều lệ từ khoảng 27.744 tỷ đồng lên 33.293 tỷ đồng. Với mức vốn mới, TCBS trở lại vị trí công ty chứng khoán có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Diễn biến này xảy ra chỉ hơn một tháng sau khi Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI hoàn tất phát hành hơn 500 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên 30.032,94 tỷ đồng và giành lại vị trí dẫn đầu. Trước đó, hồi đầu năm, SSI cũng chào bán hơn 415 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, đưa vốn điều lệ lên gần 25.000 tỷ đồng.
Như vậy, TCBS và SSI hiện là hai công ty chứng khoán có vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng và vị trí dẫn đầu liên tục thay đổi sau mỗi đợt phát hành.
Ở nhóm bám đuổi, Công ty Cổ phần Chứng khoán VIX có vốn điều lệ 25.728 tỷ đồng, gấp khoảng 4,4 lần mức cuối năm 2022. Trong khi Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS đạt khoảng 24.349 tỷ đồng vốn điều lệ, cao hơn 4 lần mức 5.700 tỷ đồng duy trì từ cuối năm 2021, trước khi doanh nghiệp bước vào các đợt tăng vốn lớn từ cuối năm 2025.
Một số công ty khác cũng đẩy nhanh kế hoạch bổ sung nguồn lực tài chính. Công ty Cổ phần Chứng khoán TP.HCM (HSC) đã hoàn tất hai phương án phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và người lao động, nâng vốn điều lệ từ gần 10.808 tỷ đồng lên gần 13.728 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt kế hoạch nâng vốn vượt 15.000 tỷ đồng trong năm nay thông qua ba phương án phát hành.
Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap cũng mở rộng vốn điều lệ từ 1.644 tỷ đồng lên 11.522 tỷ đồng, tương đương khoảng 7 lần.

Ở nhóm công ty chứng khoán có ngân hàng hậu thuẫn, nguồn lực từ ngân hàng mẹ cũng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng vốn. Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) được ngân hàng ACB bổ sung nguồn lực để nâng vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng lên 13.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2026.
Tháng 5/2026, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS) tăng vốn điều lệ lên 8.500 tỷ đồng, gấp 3,4 lần mức 2.500 tỷ đồng trước đó, với nguồn lực bổ sung từ ngân hàng mẹ Vietcombank.
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGOẠI ĐỨNG NGOÀI ĐƯỜNG ĐUA
Một trong những động lực quan trọng thúc đẩy các công ty chứng khoán tăng vốn là nhu cầu mở rộng hoạt động cho vay ký quỹ (margin). Theo quy định, tổng dư nợ cho vay của công ty chứng khoán không được vượt quá hai lần vốn chủ sở hữu. Vì vậy, quy mô vốn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng dư nợ, bên cạnh yêu cầu quản trị rủi ro và chất lượng tài sản bảo đảm.
Đến hết quý 2/2026, dư nợ cho vay ký quỹ trên thị trường chứng khoán ước đạt 435.000 tỷ đồng. Thị phần cho vay tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp dẫn đầu như TCBS, SSI, VPS, VPBankS và HSC.
Nguồn lực tài chính lớn giúp các công ty này có thêm dư địa cung cấp dịch vụ cho khách hàng, song quy mô cho vay càng mở rộng thì yêu cầu kiểm soát rủi ro càng trở nên quan trọng. Bên cạnh đó, việc tăng vốn còn tạo dư địa để doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và phát triển tệp khách hàng.
Theo báo cáo của VIS Rating, tỷ lệ đòn bẩy toàn ngành có thể tăng trở lại lên 2,3-2,4 lần trong nửa cuối năm 2026 khi nhu cầu vốn gia tăng cùng quy mô bảng cân đối.
Nếu không huy động thêm vốn trong giai đoạn này, những công ty có hoạt động cho vay ký quỹ như BSI, CTS và đầu tư trái phiếu như TCX, HDS, đang tiến gần các giới hạn quy định, có thể gặp khó khăn trong việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận từ các mảng kinh doanh cốt lõi.
Trong bối cảnh các doanh nghiệp chứng khoán nội liên tục bổ sung vốn, nhóm công ty chứng khoán ngoại lại đứng ngoài cuộc đua. Theo phân tích của một chuyên gia tài chính, phần lớn các doanh nghiệp này được hậu thuẫn bởi các tập đoàn tài chính lớn đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.
Nguồn lực từ công ty mẹ giúp họ có khả năng tiếp cận vốn tương đối dồi dào, nhờ đó không nhất thiết phải liên tục tăng vốn điều lệ để duy trì hoạt động kinh doanh.
Lợi thế nguồn vốn cũng tạo điều kiện để một số công ty chứng khoán ngoại cạnh tranh bằng lãi suất cho vay ký quỹ. Với khả năng tiếp cận nguồn vốn từ tập đoàn mẹ, họ có thể đưa ra mức lãi suất hấp dẫn hơn trong một số trường hợp.
Tuy nhiên, mức lãi suất cụ thể vẫn phụ thuộc vào chi phí vốn, chính sách kinh doanh và khẩu vị rủi ro của từng doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa vào nguồn vốn dồi dào.
Bên cạnh đó, nhóm công ty chứng khoán ngoại có lợi thế khi phục vụ nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức mới tham gia thị trường Việt Nam có thể ưu tiên những đơn vị có cùng hệ sinh thái, ngôn ngữ hoặc tiêu chuẩn vận hành quốc tế.
Mạng lưới khách hàng và kinh nghiệm phục vụ dòng vốn xuyên biên giới giúp các công ty này có vị thế riêng, dù một số rào cản trong tiếp cận thị trường vẫn khiến phạm vi khách hàng của họ tập trung nhiều vào nhóm nhà đầu tư nước ngoài.
Kinh nghiệm vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống giao dịch và nền tảng công nghệ cũng là những yếu tố hỗ trợ sức cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp này.
Trong khi đó, với các công ty chứng khoán thực hiện IPO hoặc niêm yết, việc huy động vốn trên thị trường còn có thể gắn với mục tiêu định giá doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tiếp cận nhà đầu tư.
Những mục tiêu này không phải lúc nào cũng là ưu tiên của công ty chứng khoán ngoại, đặc biệt với các đơn vị không niêm yết và chưa có kế hoạch đưa cổ phiếu lên sàn.
Vì vậy, cuộc đua tăng vốn không đồng nghĩa mọi công ty chứng khoán đều phải lựa chọn cùng một chiến lược. Với doanh nghiệp nội, tăng vốn có thể mở rộng giới hạn cho vay, tăng khả năng đầu tư và củng cố vị thế trên thị trường. Với nhóm công ty chứng khoán ngoại, nguồn lực từ tập đoàn mẹ, tệp khách hàng và nền tảng vận hành lại có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh theo một hướng khác.



