Người đái tháo đường cần biết khuyến cáo về quan điểm điều trị mới
Các khuyến cáo mới cho thấy những thay đổi quan điểm trong quản lý và điều trị căn bệnh này.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào, chủ tịch Hội Đái tháo đường- Nội tiết TPHCM (ở giữa). Ảnh: L.Minh
Quản lý Đái tháo đường típ 2 không còn là việc chỉ kiểm soát những con số đường huyết. Các khuyến cáo mới cho thấy những thay đổi quan điểm trong quản lý và điều trị căn bệnh này.
Phóng viên Báo Sức khỏe và Đời sống đã có cuộc trao đổi với PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào, chủ tịch Hội Đái tháo đường- Nội tiết TPHCM xung quanh những thay đổi mang tính bước ngoặt này.
Quản lý theo cả chuỗi tiến triển của bệnh
- Thưa Phó giáo sư, những quan điểm mới, hay còn được gọi là những "bước ngoặt" trong định hướng điều trị bệnh nhân đái tháo đường típ 2 hiện nay được thể hiện như thế nào?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Đái tháo đường típ 2 là một bệnh chuyển hoá mạn tính, đặc trưng bởi tăng đường huyết kéo dài, cùng các rối loạn chuyển hoá carbohydrat, lipid, protein dẫn đến tổn thương các cơ quan đích. Người có bệnh đái tháo đường típ 2 ngay ở thời điểm được chẩn đoán bệnh, có thể chưa có biến chứng, hoặc đã có các yếu tố nguy cơ tim mạch; hoặc có một hoặc nhiều biến chứng mạn tính và có thể có bệnh đồng mắc đi kèm.
Trước kia, mục tiêu điều trị đái tháo đường típ 2 là kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu để ngăn chặn hoặc làm chậm sự xuất hiện của biến chứng. Tuy nhiên, bệnh đái tháo đường típ 2, xơ vữa động mạch, suy tim, bệnh thận mạn, béo phì không phải là các bệnh lý riêng lẻ. Mà là biểu hiện chuỗi bệnh lý tim- thận- gan- chuyển hoá. Do đó quản lý bệnh cũng có sự thay đổi. Tầm soát để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ chuyển hoá hoặc tổn thương cơ quan dưới lâm sàng.
Mục tiêu điều trị đái tháo đường típ 2 hiện nay là ngăn ngừa hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng, tối ưu hoá chất lượng cuộc sống. Với mục tiêu bảo vệ tim, thận, quản lý toàn diện các yếu tố nguy cơ tim mạch, quản lý đường huyết và cân nặng việc điều trị cần tiếp cận đa chiều. Điều trị cần được dựa theo phân tầng nguy cơ và có sự phối hợp liên chuyên khoa để các bác sĩ cùng kết nối, điều trị tổng thể các vấn đề của người bệnh.
Nếu trước đây chúng ta quản lý bệnh chủ yếu bằng những con số đơn lẻ thì hiện nay cần quản lý theo cả chuỗi tiến triển của bệnh, nhằm ngăn không cho bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng hơn. Đây chính là một bước ngoặt trong quan điểm điều trị.
Nói một cách khác, điều trị đái tháo đường đang chuyển từ mục tiêu đơn thuần kiểm soát đường huyết sang bảo vệ tim, thận và các cơ quan đích, đồng thời phải tính đến khả năng chi trả và duy trì điều trị lâu dài của người bệnh.
Đây là một trong những thay đổi quan trọng trong các khuyến cáo gần đây của y học thế giới. Thay vì chỉ tập trung vào chỉ số HbA1c, bác sĩ cần lựa chọn thuốc dựa trên toàn diện nguy cơ tim mạch, bệnh thận, cân nặng, nguy cơ hạ đường huyết, tác dụng phụ, chi phí, khả năng tiếp cận và nguyện vọng của người bệnh.

Các đại biểu tham dự hội thảo về bệnh nội tiết, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa Việt Nam mới được tổ chức tại TPHCM. Ảnh: L. Minh
- Hiện vẫn còn nhiều người mắc đái tháo đường chưa được phát hiện, trong khi một số người đã được chẩn đoán nhưng chưa điều trị hoặc chưa dùng thuốc. Điều này gây ra những hệ lụy gì đối với sức khỏe người bệnh và gánh nặng cho gia đình, xã hội ?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), số người trưởng thành mắc đái tháo đường trên toàn cầu đã tăng từ khoảng 200 triệu người năm 1990 lên 830 triệu người năm 2022. Đáng chú ý, 59% người trưởng thành từ 30 tuổi trở lên mắc đái tháo đường trong năm 2022 không sử dụng thuốc điều trị; khoảng 90% số người chưa được điều trị sống tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.
Những con số này cho thấy khoảng cách lớn giữa có thuốc và được điều trị thực sự. Chi phí thuốc, khả năng chi trả, mức độ bao phủ bảo hiểm y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đều có thể trở thành rào cản.
ADA 2026 cũng yêu cầu bác sĩ thường xuyên đánh giá các khó khăn tài chính có thể ảnh hưởng đến việc điều trị. Với người bệnh gặp rào cản về chi phí, có thể cân nhắc các thuốc có giá thành thấp hơn như metformin, sulfonylurea, thiazolidinedione hoặc insulin người, đồng thời phải cân nhắc nguy cơ hạ đường huyết, tăng cân, biến cố tim mạch, bệnh thận và các tác dụng bất lợi khác.
Như vậy, bài toán trong điều trị đái tháo đường không đơn giản là "thuốc nào tốt nhất" mà là thuốc nào phù hợp nhất với từng người bệnh và có thể duy trì lâu dài.
Các chuyên gia nhấn mạnh cần cân bằng giữa hiệu quả lâm sàng, độ an toàn, khả năng chi trả và sự tuân thủ. Một phác đồ điều trị tối ưu nhưng vượt quá khả năng tài chính của người bệnh có thể dẫn đến tình trạng giảm liều, bỏ thuốc hoặc ngừng điều trị.
Do đó, ngay từ lần kê đơn đầu tiên, bác sĩ cần trao đổi với người bệnh về khả năng chi trả, hoàn cảnh sống, mong muốn điều trị và những khó khăn có thể khiến họ không tuân thủ. Đây cũng là tinh thần của cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm được ADA nhấn mạnh trong khuyến cáo mới.
Có khả năng làm bệnh thoái lui
- TPHCM là đô thị năng động, người dân bận rộn, có xu hướng sử dụng nhiều thức ăn nhanh. Những yếu tố này có làm gia tăng nguy cơ đái tháo đường không?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Đái tháo đường có rất nhiều yếu tố thuận lợi để bệnh phát triển, và điều này không chỉ xảy ra ở TPHCM mà ở bất kỳ đâu.
Thứ nhất là tuổi. Tuổi càng lớn thì các rối loạn chuyển hóa càng nhiều. Thứ hai là lối sống thụ động hoặc sử dụng những loại thực phẩm không có lợi cho sức khỏe. Bên cạnh đó, stress trong cuộc sống cũng tác động đến bệnh lý.
TPHCM là một thành phố rất năng động, mọi người làm việc nhiều. Tuy nhiên, những yếu tố bất lợi cho sức khỏe cũng có thể xuất hiện, chẳng hạn chế độ ăn uống chưa hợp lý, vận động không đầy đủ và stress trong cuộc sống. Tất cả đều có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ đái tháo đường.
Đáng lưu ý là bệnh đái tháo đường đang có xu hướng trẻ hóa. Đồng thời, một thay đổi quan trọng trong điều trị là ngày càng chú trọng can thiệp bệnh ở giai đoạn sớm hơn, khi người bệnh mới chỉ có rối loạn đường huyết, tức giai đoạn tiền đái tháo đường.
- Các chuyên gia cho rằng người Việt Nam, cũng như người châu Á, có thể không béo nhưng vẫn có nguy cơ đái tháo đường. Vì sao lại như vậy?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Đặc điểm của người châu Á nói chung là chỉ số BMI, tức chỉ số khối cơ thể, có thể vẫn ở mức bình thường nhưng lại tăng mỡ bụng. Mỡ tạng là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy các rối loạn chuyển hóa và tình trạng viêm trong cơ thể. Từ đó có thể xảy ra một chuỗi diễn tiến của các rối loạn chuyển hóa.
- Trước đây nhiều người nghĩ một khi đã bị đái tháo đường thì chỉ có thể kiểm soát chứ không thể đảo ngược. Quan điểm này hiện nay thay đổi như thế nào, thưa giáo sư?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Nếu phát hiện sớm, chúng ta có thể tăng cường các giải pháp can thiệp và có khả năng làm bệnh thoái lui ở giai đoạn tiền đái tháo đường, thậm chí ngay cả· khi mới được xác định mắc đái tháo đường.
Điều quan trọng là không nên nghĩ rằng khi đã có rối loạn đường huyết thì chúng ta không làm được gì nữa. Nếu điều trị tích cực ngay từ đầu, ngăn chặn tác động của các yếu tố nguy cơ thì vẫn có thể duy trì tình trạng sức khỏe tốt.
- Vậy người dân cần làm gì để tăng cơ hội thoái lui tiền đái tháo đường và ngăn bệnh tiến triển?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Mấu chốt là phải phát hiện bệnh sớm và can thiệp các yếu tố nguy cơ.
Khi phát hiện sớm, chúng ta có thể nhận diện những người mới chỉ ở giai đoạn rối loạn đường huyết, chẳng hạn rối loạn đường huyết đói hoặc đường huyết sau ăn.
Ở những trường hợp này, có thể điều chỉnh bằng lối sống, bao gồm chế độ ăn và chế độ vận động. Với những người có nguy cơ cao hơn trong nhóm tiền đái tháo đường, bác sĩ có thể cân nhắc các biện pháp can thiệp sớm.
Như vậy, điều quan trọng nhất vẫn là phát hiện sớm và kiểm soát các yếu tố nguy cơ.
- TPHCM cũng như cả nước đang triển khai khám, tầm soát sức khỏe cho người dân. Theo giáo sư việc này có thể giúp giảm gánh nặng đái tháo đường như thế nào?
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào: Chúng tôi đánh giá cao việc tầm soát, khám sức khỏe cho người dân. Bởi có những nhóm đối tượng, nhóm tuổi ít quan tâm đến sức khỏe hoặc không có nhiều cơ hội tiếp xúc với cơ sở y tế.
Thông qua khám sức khỏe, chúng ta có thể phát hiện những người có nguy cơ mắc đái tháo đường, những người đang ở giai đoạn tiền đái tháo đường hoặc đã mắc đái tháo đường.
Khi phát hiện được sớm thì việc can thiệp có thể ngăn chặn chuỗi phát triển của bệnh và qua đó có khả năng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường.


