Người kỹ sư dành trọn đời bảo tồn cá quý dòng Mekong
Từ một kỹ sư thủy sản, ông Lý Văn Bon chọn dòng sông Hậu làm nơi gắn bó gần trọn đời, bảo tồn cá quý Mekong và phát triển du lịch sinh thái tại Cồn Sơn, Cần Thơ.

Kỹ sư thủy sản Lý Văn Bon bên bờ sông Hậu - Ảnh: Văn Kim Khanh
-Thưa ông, cơ duyên nào đã đưa ông trở lại với nghề thủy sản sau nhiều năm làm hải quan?
Ông Lý Văn Bon: Tôi sinh năm 1962, quê gốc U Minh, Cà Mau (nay thuộc xã Khánh Lâm, tỉnh Cà Mau), trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Cha tôi là Anh hùng Lực lượng vũ trang, mẹ là Mẹ Việt Nam anh hùng. Từ nhỏ tôi đã gắn bó với sông nước, quen với con cá, con tôm của miền Tây. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, tôi không theo nghề ngay mà về công tác trong ngành hải quan suốt 10 năm.

Bè cá ông Lý Văn Bon - Ảnh: V.K.K
Tuy vậy, niềm đam mê với thủy sản chưa bao giờ mất. Năm 1998, trong một lần đi công tác, tôi tình cờ gặp ông Philip Sarene – con trai của cố Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang. Ông ấy nói với tôi rằng trên thế giới, không có nơi nào thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá nước ngọt như dòng Mekong. Ông cũng chia sẻ nhiều kiến thức về kỹ thuật phối giống, nuôi dưỡng và xuất khẩu cá.
Những câu chuyện đó khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Sau khi bàn bạc với gia đình, tôi quyết định nghỉ việc và “khăn gói” lên Cồn Sơn, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ để lập nghiệp. Tôi chọn sông Hậu vì nơi đây có dòng nước chảy mạnh, ít ô nhiễm, nhiều tầng nước mát, rất phù hợp cho cá sinh trưởng và sinh sản. Tính đến nay, tôi đã gắn bó với nghề nuôi cá bè trên sông Hậu gần 27 năm.

Ông Lý Văn Bon hàng ngày chăm sóc cá tại các bè nuôi cá do ông gầy dựng - Ảnh: Văn Kim Khanh
-Hiện nay, ông đang nuôi và bảo tồn những loài cá nào của dòng Mekong?
Ông Lý Văn Bon: Hiện tại, tôi nuôi nhiều nhất là cá thác lác. Đây là loài vừa có giá trị kinh tế, vừa dễ nhân giống. Mỗi năm, sản lượng cá thác lác của tôi đạt khoảng 1.000 tấn, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, tôi còn bảo tồn hơn 15 loài cá quý hiếm của dòng Mekong. Trong số này có cá mê rổ (mè rổ), một loài săn mồi độc đáo có khả năng phun nước để bắn con mồi rơi xuống. Cá cung thủ là loài sống theo cặp, khi bị tách ra sẽ tìm bạn đời suốt nhiều tuần. Cá hô – được mệnh danh là “thủy quái” của sông Mekong – chỉ ăn rong rêu, bùn non và từng được người dân bắt gặp những con nặng từ 300 đến 500kg.

Ông Lý Văn Bon với mô hình cá hô sông Mekong - Ảnh: Văn Kim Khanh
Ngoài ra còn có cá tra cờ, cá chạch lấu, cá vồ đém, cá sát sọc và cá hồng vỹ có nguồn gốc từ sông Amazon (Nam Mỹ), nhưng thích nghi tốt với môi trường nước ngọt tại sông Hậu. Mỗi loài cá đều có tập tính sinh học riêng, đòi hỏi cách chăm sóc và bảo tồn khác nhau. Tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của từng loài để tạo môi trường sống phù hợp nhất cho chúng.
-Có loài cá nào ông phải mất nhiều thời gian nghiên cứu vì nguy cơ cạn kiệt ngoài tự nhiên?
Ông Lý Văn Bon: Có, đó là cá chốt chuột. Tôi phải mất gần 10 năm để nghiên cứu và nhân giống thành công loài cá này. Ban đầu, tôi mua cá từ những nông dân dở chà, đem về cho đẻ nhưng không thành công, cá chết hết. Tôi phải thử nghiệm nhiều lần, điều chỉnh môi trường nước, thức ăn và cách chăm sóc mới đạt được kết quả.

Cá mê rổ do ông bảo tồn - Ảnh: V.K.K
Hiện nay, cá chốt chuột ngoài tự nhiên rất hiếm. Muốn có cá giống phải đặt mua từ nhiều nơi, có khi lên tận An Giang mới gom đủ. Tôi giữ lại giống cá này không phải để kinh doanh, mà để phục vụ nghiên cứu và giúp du khách, sinh viên hiểu thêm về một loài cá từng quen thuộc với người miền Tây.
Theo tôi, bảo tồn nguồn lợi thủy sản không chỉ là giữ lại con cá, mà còn là giữ lại ký ức sinh học và văn hóa ẩm thực của vùng sông nước. Nếu không làm kịp thời, nhiều loài cá quý sẽ biến mất vĩnh viễn.
-Ông đánh giá như thế nào về việc kết hợp bảo tồn cá với phát triển du lịch sinh thái?
Ông Lý Văn Bon: Từ năm 2016, tôi mở cửa bè cá cho du khách tham quan. Bè cá của tôi hiện giống như một “Bảo tàng cá nước ngọt” thu nhỏ, trưng bày hình ảnh, mô hình 3D và thông tin song ngữ Việt – Anh về 27 loài cá đặc trưng của dòng Mekong.
Khách đến đây không chỉ xem cá mà còn được nghe giới thiệu về tập tính sinh học, vai trò sinh thái và giá trị bảo tồn của từng loài. Điều này giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Về kỹ thuật nuôi cá, tôi áp dụng mô hình cộng sinh giữa các loài. Cá vồ đém ăn cá chết để tránh ô nhiễm. Cá ét dọn rong rêu, thức ăn thừa. Cá mè hôi làm sạch hàu, hà bám vào bè. Cá he ăn phân cá và có khả năng “báo động” khi nguồn nước bị ô nhiễm. Nhờ vậy, môi trường nuôi cá được duy trì ổn định, hạn chế dịch bệnh và giảm chi phí thức ăn.
Hiện nay, tôi có trên 30 bè cá, được thiết kế khoa học, chia thành nhiều ô riêng cho từng loài. Mỗi năm, tôi đón hàng ngàn lượt khách tham quan, tạo việc làm cho lao động địa phương và góp phần phát triển du lịch sinh thái tại Cồn Sơn.

Khách tham quan bè cá ông Lý Văn Bon - Ảnh: Internet
- Với sản lượng 1.000 tấn cá mỗi năm và doanh thu hơn 10 tỉ đồng, nhiều người gọi ông là “tỉ phú cá lồng bè”. Ông nghĩ sao về tên gọi này?
Ông Lý Văn Bon: Tôi hay nói vui: “Muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt”. Nhưng thật ra, nuôi con gì, miễn có chí, biết học hỏi và không phá thiên nhiên thì cũng có thể thành công.
Tôi không chỉ nuôi cá để bán mà còn chú trọng bảo tồn các loài cá quý của dòng Mekong. Việc kết hợp nuôi cá thương phẩm, nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái giúp mô hình của tôi duy trì bền vững.
Điều khiến tôi tự hào nhất không phải là doanh thu, mà là việc bè cá của tôi đã được UBND quận Bình Thủy công nhận là mô hình đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đây là minh chứng cho nỗ lực lâu dài trong việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
Tôi chỉ mong mình còn đủ sức khỏe để tiếp tục gắn bó với sông Hậu, với những đàn cá mà tôi đã xem như bạn tri kỷ suốt gần 30 năm qua. Với tôi, sống chan hòa với thiên nhiên chính là cách bền vững nhất để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.












