Người lao động thử việc, đã nghỉ việc hoặc tạm hoãn hợp đồng có phải khấu trừ thuế TNCN 10% không?
Đối với người lao động thử việc, người đã chấm dứt hợp đồng lao động nhưng nhận lương sau khi nghỉ việc hoặc người đang tạm hoãn hợp đồng lao động thì khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% hay vẫn phải khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần?
Hỏi:
Khi áp dụng Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp hiện có một số vướng mắc, phát sinh chưa rõ phương pháp khấu trừ như sau: (1) Trường hợp người lao động ký hợp đồng thử việc (có ký hợp đồng nhưng loại hợp đồng không phải là hợp đồng lao động). (2) Trường hợp người lao động ký kết hợp đồng lao động (xác định thời hạn trên 03 tháng hoặc không xác định thời hạn), được trả lương theo hợp đồng lao động đã ký kết và thời điểm chi trả lương sau thời điểm đã chấm dứt hợp đồng lao động (có thể do thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, nghỉ hưu, …). (3) Trường hợp người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 30 của Bộ Luật lao động năm 2019.
Vậy trong 3 trường hợp trên thì doanh nghiệp sẽ được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% (theo Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253)? hoặc thực hiện khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần?
Trả lời:
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN:
“1. Trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, khi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế phải thực hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân căn cứ vào:
a) Thu nhập tính thuế tháng (đối với các khoản thu nhập do tổ chức, cá nhân chi trả, chi trả thay cho cá nhân);
b) Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật thuế TNCN.
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.”
Người nộp thuế căn cứ tình hình thực tế và đối chiếu các quy định của pháp luật để thực hiện.










