Người lao và người sử dụng lao động có được thỏa thuận không yêu cầu chi trả trợ cấp thất nghiệp hay không?
Bạn đọc Nguyễn Hồng (Hưng Yên) hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành, người lao và người sử dụng lao động có được thỏa thuận không yêu cầu chi trả trợ cấp thất nghiệp hay không?

Hình ảnh minh họa/ITN
Luật sư Hoàng Văn Chiển, Đoàn Luật sư TP Hà Nội tư vấn cho câu hỏi này như sau:
Căn cứ tại Điều 38 Luật Việc làm 2025 có quy định về điều kiện hưởng. Theo đó:
- Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện:
Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu;
Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc;
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.
- Chính phủ cũng có quy định chi tiết Điều này.
Theo đó, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:
+ Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc đúng quy định của pháp luật
+ Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
+Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
Bên cạnh đó, căn cứ Khoản 3 Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 về trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội:
- Tổ chức thực hiện thu, chi bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Như vậy, cơ quan bảo hiểm xã hội có nghĩa vụ tổ chức thực hiện thu, chi bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 30 Luật Việc làm 2025 về các chế độ bảo hiểm thất nghiệp gồm: Trợ cấp thất nghiệp…
Dựa vào quy định nêu trên, trợ cấp thất nghiệp được quy định là một trong những chế độ của bảo hiểm thất nghiệp. Do vậy, trợ cấp thất nghiệp thuộc chế độ của Bảo hiểm thất nghiệp mà Bảo hiểm thất nghiệp sẽ do Bảo hiểm Xã hội chi trả nếu người lao động đó có đóng Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật. Do vậy, người lao động và người sử dụng lao động không thể thỏa thuận với nhau về việc không yêu cầu chi trả trợ cấp thất nghiệp.


