Người nông dân làm quen với dữ liệu

Thời gian qua, sản xuất nông nghiệp ở địa bàn tỉnh nói chung và các xã Mường Khoa, Tân Uyên, Than Uyên có bước phát triển rõ nét, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số (CĐS) được xác định là giải pháp quan trọng hỗ trợ nông dân tiếp cận, dự báo và nắm bắt kịp thời thông tin thị trường nông sản. Nhờ đó, nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao của địa phương như gạo đặc sản, chè, mật ong, thịt lợn sấy, địa lan… ngày càng khẳng định thương hiệu, mở rộng đầu ra và nâng cao giá trị.

Chị Đào Thị Thanh Nga là chủ mô hình sản xuất rau, củ, quả an toàn theo hướng hữu cơ trên diện tích 4.000m2 nhà màng ở thôn 2, xã Tân Uyên. Chị Mai chia sẻ: Trước đây muốn biết cây sinh trưởng ra sao, khu vực nào thiếu nước, sâu bệnh xuất hiện ở đâu, người làm vườn phải đi kiểm tra từng khu vực. Nhật ký sản xuất cũng chủ yếu được ghi trên giấy. Thế nhưng cách làm ấy đang dần thay đổi, CĐS đang tiến gần hơn đến sản xuất nông nghiệp số. Camera theo dõi vườn cây, cảm biến tự động thu nhận thông tin, drone quan sát từ trên cao, bản đồ số và dữ liệu vệ tinh giúp giám sát những vùng sản xuất rộng lớn. Nông dân chỉ cần mở điện thoại để theo dõi thời tiết, tình trạng sản xuất để đưa ra quyết định.

Ứng dụng IoT giúp nhà vườn theo dõi các thông số môi trường, chủ động điều chỉnh chế độ chăm sóc cây trồng.

Ứng dụng IoT giúp nhà vườn theo dõi các thông số môi trường, chủ động điều chỉnh chế độ chăm sóc cây trồng.

Tại xã Than Uyên, địa phương có nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ lực như lúa gạo, cây ăn quả, thủy sản và các loại thịt sấy, chuyển đổi số (CĐS) đang từng bước trở thành động lực quan trọng trong đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị nông sản. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, nguồn nước phục vụ sản xuất tiềm ẩn nhiều biến động, cùng với những yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, sản xuất nông nghiệp không thể chỉ chú trọng gia tăng sản lượng mà cần hướng tới nâng cao hiệu quả, ổn định chất lượng và đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc ứng dụng công nghệ số, khai thác hiệu quả dữ liệu về đất đai, thời tiết, nguồn nước, mùa vụ và thị trường tiêu thụ được xem là giải pháp quan trọng, giúp người dân, hợp tác xã chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, giảm thiểu rủi ro và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản địa phương.

Trang bị kỹ năng số giúp người sản xuất có thêm thông tin về tình trạng cây trồng mà không phải kiểm tra thủ công toàn bộ diện tích.

Trang bị kỹ năng số giúp người sản xuất có thêm thông tin về tình trạng cây trồng mà không phải kiểm tra thủ công toàn bộ diện tích.

Ông Phan Văn Ngọc - Chủ tịch UBND xã Than Uyên cho biết, phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên và các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, địa phương xác định đẩy mạnh CĐS, ứng dụng khoa học công nghệ là hướng đi cần thiết để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Trong đó, việc thu thập, quản lý và khai thác dữ liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được đặc biệt quan tâm, nhằm giúp người dân từng bước chuyển từ sản xuất dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang kết hợp kinh nghiệm với thông tin, dữ liệu khoa học. Qua đó, chủ động lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, điều chỉnh mùa vụ, sử dụng hiệu quả nguồn nước và nâng cao chất lượng sản phẩm. Dữ liệu chính là công cụ số một để tổ chức lại sản xuất, đảm bảo năng suất và chất lượng phù hợp với điều kiện thời tiết của từng vùng. Đây cũng là cơ sở để địa phương từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân.

Mô hình nho hạ đen ở xã Than Uyên mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ ứng dụng công nghệ số.

Mô hình nho hạ đen ở xã Than Uyên mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ ứng dụng công nghệ số.

Những khu nhà màng trồng nho hạ đen, nho sữa, cà chua, dưa chuột… dần trở nên quen thuộc ở xã Than Uyên. Hệ thống tưới tự động và các ứng dụng công nghệ được sử dụng để theo dõi nhiệt độ, độ ẩm giúp người dân tiết kiệm chi phí và công lao động. Khi các thông số thay đổi, người vận hành có thể điều chỉnh quạt, phun nước để tạo môi trường phù hợp cho cây trồng.

Ông Lò Văn Ninh - Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Hua Nà (xã Than Uyên) chia sẻ: “Trước đây, người dân trồng nho, dưa chuột, dưa bao tử theo cách truyền thống nên năng suất thấp, thu nhập không cao. Từ khi HTX được thành lập và áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, trồng trong nhà màng trên gần 1ha nho sữa, nho hạ đen, năng suất tăng gần 30%. Riêng dưa chuột, dưa bao tử giá bán cao hơn, thu nhập của các thành viên HTX tăng khoảng 40% mỗi năm. HTX cũng ứng dụng CNTT để tìm hiểu về thời tiết, giá cả, thông tin kỹ thuật và thị trường để nâng cao giá trị sản xuất”.

Khoảng cách từ hệ thống công nghệ đến người sử dụng đang là bài toán cần giải quyết nếu muốn CĐS thực sự đi vào sản xuất. Nếu trước đây nhà nông quen “trông trời, trông đất, trông mây” thì nay họ có thể “trông dữ liệu” về đất, nước, thời tiết, giống, quá trình chăm sóc, sản lượng và thị trường. Khi được thu thập, kết nối, những thông tin này giúp người sản xuất biết khu vực nào cần nước, thời điểm chăm sóc, khi nào thu hoạch và sản phẩm sẽ đi đâu.

Thông qua các mô hình thực nghiệm, nông dân được hướng dẫn khai thác dữ liệu để nâng cao hiệu quả canh tác.

Thông qua các mô hình thực nghiệm, nông dân được hướng dẫn khai thác dữ liệu để nâng cao hiệu quả canh tác.

Ông Nguyễn Duy Hưng, Giám đốc Trung tâm dịch vụ tổng hợp xã Mường Khoa cho biết, công nghệ số đang được ứng dụng vào những công việc cụ thể như điều khiển tưới, theo dõi thời tiết, giám sát sinh vật gây hại, dịch bệnh và sinh trưởng của cây trồng. Qua đó, người sản xuất có thể giảm công lao động, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Theo ông Hưng, cùng với đưa công nghệ vào mô hình thực tế, địa phương đang số hóa học liệu, tài liệu tập huấn, sổ tay kỹ thuật, tổ chức các lớp về chuyển đổi số, AI và ứng dụng công nghệ cao. Mục tiêu là giúp nông dân tiếp cận công nghệ từ chính nhu cầu sản xuất thay vì chỉ biết đến chuyển đổi số qua lý thuyết.

Việc trang bị kỹ năng số hóa dữ liệu sản xuất góp phần nâng cao khả năng dự báo cung - cầu.

Việc trang bị kỹ năng số hóa dữ liệu sản xuất góp phần nâng cao khả năng dự báo cung - cầu.

Trên địa bàn 3 xã Mường Khoa, Tân Uyên và Than Uyên hiện có hơn 20 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp đang hoạt động. Trong xu thế chuyển đổi số, việc ứng dụng công nghệ không chỉ dừng lại ở đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại mà quan trọng hơn là giải quyết những vấn đề thiết thực trong sản xuất như lựa chọn cây trồng, thời điểm xuống giống, nhu cầu tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh, dự báo sản lượng và tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Khi những vấn đề này được giải quyết bằng dữ liệu, chuyển đổi số mới thực sự đi vào hoạt động của từng HTX, trang trại và thửa ruộng. Bên cạnh kinh nghiệm sản xuất truyền thống, người nông dân có thêm cơ sở khoa học để đưa ra quyết định phù hợp, giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản góp phần nâng cao giá trị nông sản địa phương, tăng thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Qua đó, giúp người dân giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường, gia tăng giá trị nông sản địa phương, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.

Phạm Thịnh - Thái Dương

Nguồn Lai Châu: https://baolaichau.vn/kinh-te/nguoi-nong-dan-lam-quen-voi-du-lieu-596736