Người Quảng viết 'Nắng chiều' khơi dòng cho Bolero Việt Nam
Từ ca khúc 'Nắng chiều' của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, Bolero Việt Nam hình thành như một dòng trữ tình riêng, khởi đi từ đất Quảng và bền bỉ sống trong ký ức, cảm xúc của nhiều thế hệ.
Bolero là một điệu nhạc có nguồn gốc từ Tây Ban Nha, sau đó phát triển mạnh ở khu vực Mỹ Latinh rồi du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thập niên 1950. Khi bước vào đời sống âm nhạc Việt, Bolero không được giữ nguyên như một điệu nhạc thiên về không khí khiêu vũ, mà dần được người Việt tiếp nhận và chuyển hướng theo cảm thức trữ tình. Từ đó, Bolero có một đời sống riêng tại Việt Nam, trở thành một nhánh đặc thù, thường được gọi là nhạc Bolero Việt Nam.

Nhạc Bolero của Cuba và Mexico được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại - Ảnh: Internet
Đây không chỉ là sự vay mượn âm nhạc quốc tế, mà còn cho thấy khả năng chuyển hóa tinh tế của người Việt: từ một sắc thái vốn tươi sáng, giàu nhịp điệu và gợi không khí hội hè ở nhiều phiên bản Bolero Mỹ Latinh, khi đến Việt Nam, giai điệu được làm chậm lại, mềm hơn, lắng hơn, nghiêng về tự sự. Bolero Việt vì thế mang nhiều chất thủ thỉ, đằm thắm, như một cách kể chuyện bằng âm nhạc, nơi nỗi nhớ, cuộc chia xa và những rung cảm đời thường được đặt ở trung tâm.
Và như một lẽ tự nhiên của mọi nền văn hóa khi hội nhập, Bolero không còn là nguyên mẫu của phương Tây, mà được người Việt tiếp nhận bằng trực cảm rồi thổi vào đó hơi thở riêng của dân tộc mình.
Bolero được Việt hóa bằng cảm thức trữ tình
Nhờ vào sự sáng tạo của những nhạc sĩ tiền bối, dòng nhạc ấy dần dần được Việt hóa, trở nên mềm mại hơn, đằm thắm hơn, đầy ám ảnh hơn, nơi những nỗi buồn mênh mang, những cuộc tình dở dang và nỗi nhớ quê da diết len lỏi trong từng giai điệu. Bolero Việt Nam đã ra đời như thế bằng chính những rung cảm thuần túy và bản năng rất Việt.
Nếu ở nhiều phiên bản quốc tế, Bolero gợi nhịp điệu của chuyển động và không khí hội hè, thì trong không gian Việt Nam, Bolero lại tìm một con đường khác: con đường của tâm trạng. Người ta nghe Bolero để nhớ, để kể lại một điều đã qua, để nói hộ những khoảng lặng khó gọi thành lời. Sự Việt hóa ấy không chỉ nằm trong tiết tấu hay giai điệu, mà nằm trong cách đặt nỗi buồn và nỗi nhớ vào trung tâm của bài hát, như một thói quen cảm xúc đã ăn sâu vào đời sống tinh thần.
Chính ở điểm này, câu chuyện Bolero Việt Nam không thể chỉ dừng ở khái quát. Muốn thấy rõ khoảnh khắc dòng chảy ấy được định hình, cần lần về một cột mốc cụ thể, nơi Bolero bắt đầu mang giọng nói riêng của người Việt.

Một điểm đàn hát Bolero dân dã ở TP.HCM - Ảnh: Tiểu Vũ
Người Quảng khơi dòng Bolero với “Nắng chiều”
Khi đối chiếu các tư liệu âm nhạc và những ghi nhận sớm về tiến trình hình thành Bolero tại Việt Nam, vẫn có những cách kể khác nhau và đôi khi còn có tranh luận về mốc khởi đầu. Tuy vậy, xét trên những dữ kiện thường được nhắc đến và mức độ thống nhất của nhiều nguồn, cái tên thuyết phục nhất vẫn là Lê Trọng Nguyễn, người con tài hoa của đất Quảng.
Sinh năm 1926 tại Điện Bàn, Quảng Nam, Lê Trọng Nguyễn không chỉ là một nhạc sĩ lớn của nền âm nhạc Việt Nam, ông còn là hội viên của Hội tác giả và nhạc sĩ Pháp (SACEM), một ghi nhận quốc tế hiếm hoi dành cho một nghệ sĩ Việt Nam vào thời điểm ấy. Nhưng vượt lên trên mọi danh xưng và vinh dự, ông được nhớ đến như người đã viết nên bản Bolero đầu tiên của Việt Nam, bài Nắng chiều, được xác định là do ông sáng tác vào khoảng năm 1952.

Lê Trọng Nguyễn thời gian ở Hội An - Ảnh tư liệu gia đình
Đó không chỉ là một bản nhạc, mà là một lời tự tình dịu dàng, tha thiết, khơi mở cho Bolero Việt một cách cảm rất riêng, lặng lẽ, u hoài và thấm đẫm hồn quê. Nắng chiều như một bản tình ca đầu mùa, khẽ ngân lên từ lòng đất Quảng rồi lan tỏa thành âm vang của cả một thời đại.
Dù thời gian và ký ức có thể phủ một lớp sương mờ lên hoàn cảnh ra đời chính xác của bản nhạc, nhưng có nhiều dấu chỉ âm thầm đưa ta về một buổi chiều ở Vĩnh Điện, Điện Bàn, Quảng Nam (nay là phường Điện Bàn, TP.Đà Nẵng) nơi Lê Trọng Nguyễn lặng đứng nhìn dòng quê nhà lững lờ trôi giữa mùa nắng nhạt và những xáo trộn của thời cuộc. Trong không gian yên ắng và thấm đẫm hoài niệm ấy, bản nhạc Nắng chiều có thể đã bắt đầu được nhen nhóm, từ một thoáng chạnh lòng rất thật, rất người:
Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
Khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ…

Bà Trần Thị Chanh, người vợ đầu tiên của Lê Trọng Nguyễn ở Hội An - Ảnh tư liệu gia đình
Cũng có một câu chuyện riêng, sâu lắng và đầy cảm xúc, câu chuyện mà chính ông từng kể lại như một lời tự tình: đó là mối tình với một cô gái trong gia đình công chức từ Quy Nhơn ra Hội An năm 1945. “Tôi yêu người con gái ấy,” ông nói. Và từ tình yêu chưa kịp thành lời đó, Nắng chiều ra đời, như một tiếng thở dài dịu buồn, chạm đến tận cùng của nỗi nhớ trong lòng một người viết nhạc.
Dù chưa thể khẳng định đâu là khoảnh khắc tuyệt đối khởi nguyên bài hát, nhưng vẫn có thể nói rằng: Xứ Quảng chính là nơi Nắng chiều phôi thai những nốt nhạc đầu tiên. Và từ đó mảnh đất này trở thành điểm khởi đầu cho một dòng nhạc Bolero Việt Nam mang đậm dấu ấn tâm hồn và bản sắc dân tộc.

Ngôi nhà nhạc Lê Trọng Nguyễn từng sống cùng mẹ và em gái tại Hội An - Ảnh: Trương Nguyên Ngã
Một cách cảm rất Việt trong giai điệu và ca từ
Bản Bolero đầu tiên của Việt Nam, Nắng chiều không chỉ mở đầu cho một dòng nhạc mà còn đặt nền móng cho một cách cảm, cách cảm rất Việt, rất người. Với giai điệu hơi nhanh, tiết tấu đều đều như nhịp chân người nhớ cũ, bài hát mang đến một không gian đầy hoài niệm, chất chứa nỗi buồn dịu dàng của một thời xa vắng. Ca từ không phức tạp nhưng thấm đẫm hình ảnh thân quen: bến nước, nương dâu, bước chân qua thôn cũ, ánh mắt người con gái gầy gầy bên thềm nắng, khiến người nghe như được dắt tay trở về vùng ký ức của chính mình. Nắng chiều chính là minh chứng cho vẻ đẹp mộc mạc mà sâu sắc của điệu Bolero Việt, nơi nỗi nhớ không cần gọi tên cũng đủ ngân dài suốt cả một đời.

Một trang của bản “Nắng chiều” được in ở Sài Gòn năm 1971 - Ảnh: Tư liệu
“Nắng chiều” đi xa từ một buổi chiều xứ Quảng
Ca khúc Nắng chiều được ca sĩ Minh Trang thu âm lần đầu vào khoảng giữa năm 1955. Đó cũng là năm người em gái duy nhất của Lê Trọng Nguyễn qua đời. Quá đau buồn, ông quyết định đem bản nhạc ký tái bản để nhận một khoản tiền tác quyền nhỏ, gửi về quê lo hậu sự cho em. Một bản nhạc viết từ nỗi nhớ người xưa, đến lúc ấy lại trở thành lời tiễn biệt cuối cùng dành cho người ruột thịt.
Từ một bản nhạc âm thầm vang lên giữa lòng đất Quảng, Nắng chiều dần được công chúng đón nhận và bắt đầu một hành trình đáng nhớ. Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Đúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm Việt Nam, ban nhạc Toho Geino đã chọn ra 12 ca khúc tiêu biểu để biểu diễn tại Sài Gòn và Tokyo, Nắng chiều là một trong số đó, và được thể hiện bởi nữ ca sĩ Midori Satsuki.

Ca sĩ Midori Satsuki năm 1963, lúc nổi tiếng với ca khúc “Nắng chiều” tại Nhật
Tiếng của Midori Satsuki đã đưa bản nhạc đi xa hơn mong đợi của người viết. Năm 1960, ca sĩ người Hoa Ki Lo Ha yêu thích bài hát đến mức viết lại lời bằng tiếng Hoa và phổ biến rộng rãi tại Đài Loan, Hồng Kông. Từ một buổi chiều bên dòng Thu Bồn, Nắng chiều đã vượt ra khỏi biên giới, trở thành nhịp ngân chung của nhiều tâm hồn châu Á, những tâm hồn cũng biết thương, biết nhớ, biết khắc khoải vì một bóng hình đã xa.
Và hành trình ấy chưa dừng lại. Sau này, đạo diễn Lê Mộng Hoàng chuyển thể Nắng chiều thành phim. Đến năm 1994, trong bộ phim Xích lô của đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng, ca khúc lại một lần nữa cất lên, lặng lẽ mà day dứt.
Từ “Nắng chiều” đến một thế hệ nối dài
Từ tiếng ngân đầu tiên của “Nắng chiều”, dòng nhạc Bolero Việt Nam bắt đầu hành trình riêng đầy thăng trầm và bền bỉ. Ca khúc của Lê Trọng Nguyễn không chỉ là một bản tình ca, mà còn là cột mốc mở đường cho một trường phái âm nhạc mang đậm bản sắc Việt, nơi những buồn vui của người bình thường được kể lại bằng âm điệu mềm mại, tha thiết và gần gũi đến nao lòng.
Sau Nắng chiều, Bolero nhanh chóng trở thành một dòng chảy quan trọng trong đời sống tân nhạc miền Nam. Hàng loạt nhạc sĩ tiếp nối và làm nên một giai đoạn rực rỡ của âm nhạc trữ tình đại chúng. Có thể kể đến những tên tuổi để lại dấu ấn sâu đậm như: Châu Kỳ, Mạnh Phát, Trúc Phương, Lam Phương, Minh Kỳ, Hoài Linh, Lê Dinh, Anh Bằng, Hoàng Thi Thơ, Hoài An, Phạm Mạnh Cương, Tuấn Khanh, Y Vân, Dzũng Chinh, Anh Việt Thu, Lê Trực, Phạm Thế Mỹ, Đài Phương Trang, Giao Tiên, Vinh Sử…

Ảnh các nhạc sĩ nổi tiếng viết nhạc Bolero của Việt Nam (theo thứ tự từ trái sang): Hàng đầu: Châu Kỳ – Mạnh Phát – Trúc Phương – Lam Phương – Minh Kỳ – Hoài Linh; Hàng thứ 2: Lê Dinh – Anh Bằng – Hoàng Thi Thơ – Duy Khánh – Hoài An – Phạm Mạnh Cương; Hàng thứ 3: Tuấn Khanh – Y Vân – Dzũng Chinh – Anh Việt Thu – Lê Trực – Phạm Thế Mỹ - Ảnh: Tư liệu
Mỗi người một giọng điệu, một không gian sáng tác, nhưng họ gặp nhau ở một điểm chung: viết bằng thứ tình cảm mộc mạc và dân dã nhất. Bolero không chỉ kể chuyện tình yêu đôi lứa, mà còn cất lên tình yêu quê nhà, tình nghĩa xóm giềng, nỗi nhớ một bến sông, một con đường, một mái hiên, những điều rất quen thuộc. Chính vì điều đó nhạc Bolero đã chạm vào những trái tim ở mọi tầng lớp trong xã hội để ai cũng có thể tìm thấy mình trong một câu hát, một giai điệu, một nỗi nhớ.
Những thăng trầm trong tiếp nhận và sức sống của Bolero
Nếu lấy Nắng chiều làm cột mốc cho khởi nguyên của Bolero Việt Nam, có thể thấy dòng nhạc này đã bước vào một hành trình riêng đầy biến động trong đời sống âm nhạc. Đã có thời Bolero trở thành dòng chảy quen thuộc, hiện diện khắp nơi, từ những buổi tụ họp bình dị của người yêu nhạc đến phòng trà, sân khấu và các đại nhạc hội. Rồi cũng có giai đoạn Bolero bị xếp vào loại “nhạc vàng”, “nhạc sến”, bị nhìn bằng ánh mắt định kiến và không còn xuất hiện rộng rãi như trước.
Nhưng Bolero không mất đi. Nó lùi vào ký ức, sống trong thói quen nghe nhạc của nhiều thế hệ, trong chiếc radio cũ, băng cassette, trong tiếng hát khe khẽ của một người xa quê, như một mạch ngầm bền bỉ.

Thần tượng Bolero là chương trình truyền hình thực tế tìm kiếm tài năng ca hát dòng nhạc trữ tình, quê hương do VTV3 sản xuất, bắt đầu từ năm 2016 - Ảnh: BTC
Từ khoảng những năm 1980, khi đời sống văn hóa nghệ thuật mở ra những cách nhìn đa chiều hơn, Bolero bắt đầu được nhìn lại với sự trân trọng và đi vào một không gian tiếp nhận nghiêm túc hơn. Dòng nhạc này trở lại chậm rãi mà chắc chắn, không chỉ trong quán cà phê hay những sân khấu nhỏ, mà còn xuất hiện công khai trên sóng truyền hình quốc gia với các chương trình và cuộc thi chuyên biệt được tổ chức bài bản. Từ đó, Bolero bắt đầu hồi sinh mạnh mẽ để trở đúng vị trí của mình trong đời sống âm nhạc đại chúng.
Dù đi qua nhiều gập ghềnh của đời sống tiếp nhận, Bolero vẫn ở lại như một dòng chảy bền bỉ. Các thế hệ nhạc sĩ tiếp nối nhau gìn giữ, kế thừa và phát huy Bolero bằng chất liệu của thời đại mình, để dòng nhạc này không chỉ sống trong ký ức mà còn tiếp tục hiện diện trong đời sống âm nhạc đương đại.
Và nếu cần một điểm khởi đầu để lần về, thì đó vẫn là “Nắng chiều”, bản nhạc đầu tiên viết theo điệu Bolero, ngân lên từ đất Quảng, mở ra một dòng chảy âm nhạc đến nay vẫn chưa từng ngừng lại.
Video Nắng chiều qua giọng ca của Thanh Lan











