Người thầy của núi
Từ lớp học tre nứa năm 1959 đến mái trường hôm nay, ông Nguyễn Thiện Thuật vẫn giữ trọn niềm tin vào con đường học tập của con em vùng Tây Bắc.

Ông Nguyễn Thiện Thuật vẫn giữ thói quen đọc báo mỗi ngày.
Với ông, cốt lõi của giáo dục không nằm ở thiết bị hiện đại, mà ở tấm lòng của người đứng lớp.
Tâm huyết với giáo dục vùng cao
Điện Biên đón ngày mới bằng cái lạnh se se đặc trưng của mùa Đông vùng núi. Những tia nắng mỏng trải lên mái nhà, len qua hàng tre trước sân. Trong căn phòng nhỏ treo đầy những bức ảnh cũ, ông Nguyễn Thiện Thuật ngồi bên cửa sổ. Năm nay ông 88 tuổi, tóc bạc trắng, dáng người gầy nhưng ánh mắt vẫn đầy sinh khí. Trên bàn là chồng báo mới được giao từ sáng sớm.
Ông đọc chậm, lật từng trang, gạch chân những dòng liên quan đến Đại hội XIV của Đảng. Tai ông đã không còn nghe rõ như trước, nên báo in trở thành “kênh thời sự chính” để ông theo dõi diễn biến chính trị của đất nước.
Ông đặt tờ báo xuống, nhìn ra xa dãy núi mờ sương và cười hiền: “Già rồi, nhưng vẫn phải theo dõi xem đất nước mình đi thế nào. Giáo dục Tây Bắc rồi sẽ ra sao, tôi vẫn rất quan tâm”.
Ông nhớ lại con đường đất đỏ dẫn vào mỗi bản vùng cao năm xưa, nơi ông từng đi bộ hàng chục cây số để tìm học trò bỏ lớp. Con đường ấy giờ đã thành bê tông; ngôi trường cũ lợp lá giờ là dãy nhà hai tầng khang trang. Nhưng trong ký ức ông, hình ảnh ám ảnh nhất vẫn là ánh mắt trẻ con vùng cao khao khát được học chữ.
Ông kể chậm rãi: “Lớp học năm ấy chỉ là những gian nhà dựng vội, tạm bợ, có bảng đen, phấn trắng. Nhưng với tôi, đó là nơi con chữ bắt đầu biết ‘nói tiếng núi’. Tôi không dạy học trò chỉ thuộc bài mà muốn các em hiểu chữ bằng đời sống”.
Ông thường treo những mảnh mo cau viết chữ quanh lớp để các em nhìn - nhớ - hiểu. Giọng ông trầm ấm: “Phải làm sao cho các em nhớ bằng ý nghĩa, thì chữ mới ở lại với đời các em”.
Có lớp học trò lớn gần bằng tuổi thầy; khi đến thăm nhà, vợ ông phải chào các em bằng “cụ”. Chính điều đó khiến ông luôn tâm niệm: Dạy ở vùng dân tộc không chỉ kiến thức, mà là dạy con người trưởng thành về nhân cách.

Những khi rảnh rỗi, ông Thuật làm bạn với trang sách.
Năm 1959, ông Nguyễn Thiện Thuật lên Tây Bắc theo chủ trương đưa giáo viên về vùng cao dạy học. Điện Biên (tỉnh Lai Châu cũ) khi ấy nghèo, đường sá hiểm trở, trường lớp phần lớn là nhà tre, vách nứa, mái lá. Ông vừa dạy phổ thông, vừa tham gia xóa mù chữ cho người lớn ở các xã vùng sâu.
Có những bản ông phải đi bộ cả ngày mới tới, ngủ nhờ nhà dân, ăn chung bếp lửa bản. Những tối gió rét, đèn dầu leo lét, lớp học chỉ có tiếng bút sột soạt trên mo cau và tiếng củi nổ lách tách. Với ông, đó là nền móng đầu tiên của sự đổi thay ở vùng cao.
Đời sống giáo viên những năm ấy rất giản dị. Lương ít, gạo tem phiếu hạn chế; mỗi tháng chỉ được vài cân gạo, vài lạng đường, ít thịt. Nhưng đến đâu ông cũng ăn cơm cùng dân bản. Có cái Tết phải mua bì lợn về gói giò, ăn mà vẫn thấy quý.
Ông không gọi đó là hy sinh, mà là lựa chọn: “Lúc ấy, chúng tôi sống toàn bộ cho công việc; thấy sách ở đâu là đọc ở đó”.
Ngay cả khi về hưu, mỗi năm, ông vẫn đặt báo đọc đều đặn. Với ông, người thầy không đọc sách là người thầy tự đánh mất mình.
Gia đình ông ở Hà Nội, bố là liệt sĩ chống Pháp, em gái hy sinh ở Quảng Trị năm 1972. Nhiều lần người thân mong ông về xuôi, nhưng ông chọn ở lại. Ông nói giản dị: “Đã lên rồi thì phải ở lại với học trò đến cùng”.
Một trong những bài học mà học trò nhớ ông nhất là bài về “tự do”. Ông kể chuyện dân gian về Cậu Hai Thọ đi ăn cỗ cưới rồi kết luận: “Tự do không phải muốn lấy gì thì lấy, mà là cứ phần mình mình ăn, đừng động đến phần của người khác”.
Có lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên thăm trường, một học trò hồn nhiên hỏi: “Phó Thủ tướng thì làm nghề lái xe hay bán hàng mậu dịch?”. Cả hội trường cười, nhưng ông hiểu đó là khoảng cách nhận thức lúc bấy giờ, và càng thấy rõ trách nhiệm của người thầy vùng cao.
Từ những trải nghiệm ấy, ông giữ một nguyên tắc suốt đời: “Ở khu dân tộc phải lấy dân tộc làm gốc để phát triển đoàn kết”.

Ở tuổi 88, ông Thuật vẫn tăng gia, sản xuất để có thêm thu nhập.
Người thầy phải chạm được đến trái tim học trò
Nắng đã lên cao hơn trên mái nhà, ông Thuật nhìn ra xa, nơi những ngôi trường mới mọc lên trên sườn núi, rồi chậm rãi nói rằng ông vừa vui, vừa lo.
Vui vì con em Tây Bắc hôm nay có phòng học kiên cố, điện sáng, Internet, sách vở đầy đủ, điều mà thế hệ của ông năm 1959 chưa bao giờ dám mơ. Nhưng ông cũng trăn trở rất thật: “Nhà đẹp mà người thầy không thật sự vì học trò thì cũng vô nghĩa”.
Với ông, cốt lõi của giáo dục không nằm ở thiết bị hiện đại, mà ở tấm lòng của người đứng lớp. Ông nhìn thực tế hôm nay rồi nói chậm: “Công nghệ tốt, nhưng nếu dạy mà không chạm được đến trái tim học trò, thì con chữ vẫn sẽ trôi đi như nước suối mùa lũ”.
Ông cho rằng, công cuộc “xóa mù chữ” đã chuyển sang giai đoạn mới. Trẻ em biết đọc, người lớn biết ký tên, nhưng vẫn còn khoảng trống về hiểu biết pháp luật, kỹ năng sống và tiếp cận thông tin số. Ông gọi vui đó là “xóa mù chữ thời công nghệ”.
Mỗi khi đọc báo, thấy nhắc đến trường học vùng cao, ông lại dừng lâu hơn. Ông bảo, ở tuổi này điều khiến ông yên lòng nhất không phải là danh hiệu, mà là nhìn thấy học trò cũ trưởng thành, biết làm ăn, biết cho con đi học, biết giữ gìn bản sắc và biết tôn trọng pháp luật, thành quả vô hình của một đời làm thầy.
“Tôi mong rằng giáo dục vùng cao trước hết cần được quan tâm bằng chính sách dài hạn về con người, không chỉ đầu tư cơ sở vật chất. Thứ hai, đó là cần có tiếng nói mạnh hơn của ngành Giáo dục ở tầm Trung ương để bảo vệ quyền lợi của giáo viên vùng khó. Điều thứ ba mà tôi mong muốn, đó là được Đảng và Nhà nước ưu tiên đào tạo và sử dụng giáo viên địa phương - những người hiểu tiếng nói, văn hóa và tâm lý học trò mình”, ông Thuật mong muốn.
Ông nói chậm nhưng dứt khoát: “Muốn dạy tốt ở vùng dân tộc, phải yêu dân tộc ấy trước đã”.
Khi mặt trời đã cao hơn trên dãy núi, ông vẫn ngồi lặng lẽ bên cửa sổ, đọc báo và suy tư về những lớp học mo cau năm nào. Dấu ấn của ông không nằm trong huân chương hay bằng khen, mà ở từng thế hệ học trò trưởng thành từ con chữ ông “gieo trồng”. Có người giờ là lãnh đạo tỉnh, người làm cán bộ xã, người là giáo viên bản, nhân viên y tế... tất cả đều mang theo một phần tinh thần của “người thầy của núi”.
Ông Thuật khép lại câu chuyện bằng lời nhắn gửi mộc mạc mà sâu sắc: “Ngày xưa chúng tôi mang cái chữ lên núi. Bây giờ, các thầy cô trẻ phải mang tri thức mới về bản, nhưng đừng quên mang theo tấm lòng”.
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/nguoi-thay-cua-nui-post765802.html











