Nguyễn Nhật Ánh và vùng 'địa lý ký ức'
Có những vùng đất bước ra khỏi bản đồ để đi vào văn chương, ở đó một con đường, ngôi trường, thị trấn hay miền quê có thể trở thành phần ký ức chung của nhiều thế hệ. Với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, những nơi chốn tuổi thơ không chỉ được nhớ lại mà còn được tái tạo, mở rộng và trao cho những đời sống mới qua trang sách.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong vòng vây độc giả.
Hà Lam - một “tọa độ văn học”
Trong nhiều sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, những địa danh tưởng như rất đỗi bình thường lại có sức sống đặc biệt. Đo Đo là quê hương, nơi ông sinh ra; còn Hà Lam là thị trấn tuổi thơ, nơi ông học trung học, trải qua những năm tháng tuổi mới lớn. Nếu Đo Đo gắn với cội nguồn thì Hà Lam dường như gần hơn với ký ức về một thời đang lớn, với trường học, bạn bè, những rung động đầu đời và những câu chuyện được nhìn bằng đôi mắt còn nguyên vẻ tò mò.
Với Nguyễn Nhật Ánh, những địa danh ấy không phải những cái tên được lựa chọn ngẫu nhiên cho một câu chuyện. Đo Đo và Hà Lam gắn với tuổi thơ, bạn bè và những năm tháng cắp sách của ông; còn TPHCM, nơi ông học đại học rồi làm việc, trở thành một “vùng đất sáng tạo thứ hai”. Nhà văn từng nói ông không dám viết nhiều về những nơi mình chưa từng sống, bởi “sợ không chính xác”. Có thể chính sự giới hạn về không gian ấy lại tạo nên độ sâu cho thế giới văn chương của ông: viết đi viết lại những nơi chốn đã sống, nhưng mỗi lần trở lại là một lần ký ức được nhìn từ một lát cắt khác.
Nguyễn Nhật Ánh sinh năm 1955 tại làng Đo Đo, xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, Quảng Nam cũ (nay là TP Đà Nẵng). Năm 13 tuổi, ông đã có thơ đăng báo. Sau khi vào TPHCM học sư phạm, ông từng đi thanh niên xung phong, dạy học, làm báo rồi đến với văn chương như một lựa chọn lâu dài. Nhưng quê hương và tuổi thơ dường như chưa bao giờ rời khỏi ông. Chúng lắng lại, trở thành một thứ “địa lý bên trong”, càng đi xa càng hiện rõ.
…“Không thể tách bạch rõ rệt giữa ký ức và sự quan sát. Cả hai đều là những trải nghiệm, chỉ khác nhau ở tính thời điểm. Chúng thường xen lẫn vào nhau, phần này bổ sung, bồi đắp, nâng đỡ cho phần kia. Giống như chất liệu của thợ xây vậy. Để xây một ngôi nhà phải có gạch, vôi, cát, đá, xi măng. Để viết nên một tác phẩm, nhà văn thường trộn lẫn ký ức, sự quan sát và óc tưởng tượng, chỉ khác nhau ở tỷ lệ mà thôi”.
NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH
Nhà văn từng lý giải về việc những không gian ấy trở đi trở lại trong tác phẩm: “Tôi không thể bê tất cả làng mạc và thị trấn ấu thơ theo cuộc đời tha hương của mình nên khi trở thành nhà văn, tôi tìm cách tái hiện nó trong các tác phẩm để nguôi ngoai nỗi niềm sầu xứ”.
Có lẽ vì thế, thị trấn Hà Lam trong văn Nguyễn Nhật Ánh không đơn thuần là một địa danh. Nó là nơi ký ức được gọi tên. Thị trấn ấy xuất hiện trong các tác phẩm của ông, như “Lá nằm trong lá”, “Ngày xưa có một chuyện tình”, “Cây chuối non đi giày xanh” và nay trở lại trong “Chuyện tình thị trấn” (NXB Trẻ, 7/2026). Nhưng mỗi lần trở lại, thị trấn Hà Lam lại mang một diện mạo khác, bởi ký ức không phải một tấm ảnh được giữ nguyên trong ngăn kéo. Nó thay đổi theo tuổi tác, trải nghiệm và cả cái nhìn của người viết.
“Chuyện tình thị trấn” vì thế có thể được đọc như một lần trở về với Hà Lam, nhưng không phải sự trở về để tìm lại nguyên vẹn một thị trấn của tuổi thơ. Lần này, từ điểm nhìn của cậu bé Triều 12 tuổi, nhà văn bước vào một thế giới có những số phận trưởng thành, những tình yêu không còn trong trẻo và dễ đoán, những lựa chọn có thể đẩy con người về những phía rất xa nhau. Chính Nguyễn Nhật Ánh thừa nhận, khi viết cuốn sách, ông “trở thành một chú bé tò mò trước cuộc đời, như lúc còn nhỏ”.
Điều đáng chú ý là Hà Lam trong tác phẩm mới vừa quen vừa lạ. Đó vẫn là thị trấn của ký ức, nhưng phía sau vẻ bình yên đã xuất hiện những “phận người” với những bí mật, tổn thương và bi kịch. Nhà văn cho biết, ông “muốn nấn ná ở lại cái thị trấn đó, cái thị trấn vui nhộn nhưng ngày càng sầu muộn”. Một câu ngắn gọn nhưng cho thấy sự vận động của “địa lý ký ức”: Cùng một nơi chốn, song khi người viết trưởng thành, nơi chốn ấy cũng trưởng thành theo. Bởi vậy, không nên chỉ xem việc nhà văn Nguyễn Nhật Ánh nhiều lần sử dụng Hà Lam như một sự lặp lại bối cảnh. Điều ông làm thực chất là mở rộng không gian ký ức. Từ những gì đã từng sống, từng chứng kiến, từng nghe kể, nhà văn chắt lọc, nhào nặn và cấu trúc lại để tạo nên một đời sống khác cho địa danh ấy. Chính ông nói về các nhân vật, tình huống trong “Chuyện tình thị trấn” rằng đó đều là những “cảnh đời, phận người” ông từng gặp hoặc nghe nói tới; khi đưa vào sách, ông không giữ nguyên hình mẫu ngoài đời mà chắt lọc, cấu trúc lại.
Ở đây, ký ức không còn là chuyện riêng của người viết. Một thị trấn có thể bắt đầu từ ký ức cá nhân, nhưng qua văn chương lại trở thành nơi chốn mà người đọc chưa từng sống ở đó vẫn cảm thấy thân thuộc.
Điều này cũng giải thích phần nào sức hấp dẫn của những không gian miền Trung trong văn Nguyễn Nhật Ánh. Đó có thể là làng quê, thị trấn, trường học, con đường, hàng cây hay một góc phố; những địa điểm không có vẻ gì đặc biệt nếu nhìn trên bản đồ, nhưng khi đi qua trí nhớ và trí tưởng tượng của nhà văn, chúng được phủ lên một lớp thời gian khác. Người đọc không chỉ nhìn thấy một nơi chốn mà còn nhìn thấy những con người từng sống, yêu thương, tổn thương và lớn lên ở đó.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh tại một buổi giao lưu ra mắt sách ở TPHCM.
Nguyễn Nhật Ánh từng nói, nguồn cảm hứng sáng tạo của ông đến từ 3 yếu tố: Một là đến từ kỷ niệm, ký ức. Hai là từ sự quan sát đời sống xung quanh. Ba là trí tưởng tượng. Ba yếu tố ấy “thường không quá tách bạch mà nó trộn lại với nhau, tạo nên nguồn sáng tạo của nhà văn”.
“Địa lý ký ức” vì thế có thể hiểu như điểm gặp nhau của cả ba: một nơi chốn được nhớ lại, được nhìn bằng con mắt của hiện tại và được tái tạo bằng trí tưởng tượng. Hà Lam trong văn Nguyễn Nhật Ánh có lẽ được hình thành theo cách ấy.
Khi một độc giả hỏi những tác phẩm của mình thường bắt nguồn từ kỷ niệm tuổi thơ hay từ những quan sát trong cuộc sống hiện đại, Nguyễn Nhật Ánh khẳng định: “Từ cả hai”.
Theo nhà văn, với những tác phẩm như “Mắt biếc”, “Hạ đỏ”, “Cô gái đến từ hôm qua”, “Hoa hồng xứ khác”, “Trại hoa vàng”, “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, “Mùa hè không tên”..., ký ức tuổi thơ là nguồn cảm hứng rõ nét, tạo nên cảm giác hoài niệm; trong khi “Ngôi trường mọi khi”, “Nữ sinh”, “Buổi chiều Windows”, “Quán Gò đi lên”, “Con chim xanh biếc bay về” hay “Kính vạn hoa” lại được nuôi dưỡng nhiều hơn từ những gì ông quan sát trong đời sống. “Nói cho dễ hiểu vậy thôi, chứ không thể tách bạch rõ rệt giữa ký ức và sự quan sát. Cả hai đều là những trải nghiệm, chỉ khác nhau ở tính thời điểm. Chúng thường xen lẫn vào nhau, phần này bổ sung, bồi đắp, nâng đỡ cho phần kia. Giống như chất liệu của thợ xây vậy. Để xây một ngôi nhà phải có gạch, vôi, cát, đá, xi măng. Để viết nên một tác phẩm, nhà văn thường trộn lẫn ký ức, sự quan sát và óc tưởng tượng, chỉ khác nhau ở tỷ lệ mà thôi”, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh chia sẻ.
Chính ở điểm này, “địa lý ký ức” trong văn Nguyễn Nhật Ánh không nên được hiểu đơn giản là sự trở về với những nơi chốn đã qua. Hà Lam, Đo Đo hay những miền quê miền Trung trước hết là những địa điểm từng hiện hữu trong đời sống của nhà văn, nhưng khi đi vào tác phẩm, chúng đã được nhìn lại bằng kinh nghiệm của hiện tại, được bồi đắp bởi những gì ông quan sát và tái tạo bằng trí tưởng tượng. Một địa danh vì thế không chỉ lưu giữ ký ức; nó trở thành vật liệu để nhà văn xây dựng một thế giới vừa quen thuộc vừa không ngừng biến đổi.
Từ địa lý của nơi chốn đến địa lý của lòng người
Nếu những địa danh là phần nổi của ký ức thì điều khiến chúng có sức sống lâu dài lại nằm ở phần chìm: những con người và những giá trị được gửi vào đó. Đọc Nguyễn Nhật Ánh, có thể nhận ra rằng ông không chỉ trở về với một thời đã mất. Ông còn trở về với một cách nhìn về con người.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với độc giả Hà Nội.
Đó là lý do trong những câu chuyện tưởng như dành cho tuổi thơ, luôn có những câu hỏi của đời sống. Con người có thể sai lầm, ích kỷ, tổn thương nhau; những lựa chọn trong tình yêu có thể thay đổi số phận; một hành động tưởng nhỏ có khi để lại hậu quả rất lâu dài. Nhưng phía sau những điều ấy vẫn thường là khả năng tha thứ, lòng nhân hậu và sự tử tế.
“Chuyện tình thị trấn” tiếp tục mạch ấy. Nhà văn nói về sự tử tế như “cái công-tắc mà ông đã bật suốt sự nghiệp sáng tác của mình”, đồng thời gọi đó là “thứ vitamin tâm hồn, giúp người viết lẫn người đọc cảm thấy cuộc đời đẹp hơn và luôn đáng sống dù nỗi buồn không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để quấy nhiễu chúng ta”.
Nếu nhìn từ góc độ này, có thể thấy “địa lý ký ức” trong văn Nguyễn Nhật Ánh không chỉ là địa lý của làng quê hay thị trấn. Đó còn là địa lý của những mối quan hệ, của những rung động và tổn thương, của cách con người đối xử với nhau. Càng đi sâu vào những nơi chốn quen thuộc, nhà văn càng đi sâu vào phần phức tạp của đời sống con người.
Có lẽ vì vậy mà những miền quê trong văn ông hiếm khi chỉ có một màu. Tuổi thơ có thể trong trẻo nhưng không phải lúc nào cũng bình yên; tình yêu có thể đẹp nhưng không phải lúc nào cũng có kết thúc đẹp. Trong “Tiệm sách của nàng”, những tổn thương tuổi thơ, sự vô tình của người lớn, lòng hận thù và những lựa chọn sai lầm được đặt cạnh tình thương, sự hy sinh và khả năng tha thứ. Những nhân vật ấy cho thấy một điều quen thuộc trong thế giới Nguyễn Nhật Ánh: Con người có thể bị quá khứ làm tổn thương, nhưng không nhất thiết phải sống mãi trong sự tổn thương ấy.
Và đây có lẽ là điểm khiến những địa danh trong văn Nguyễn Nhật Ánh vượt khỏi ý nghĩa của một phông nền. Đằng sau một thị trấn là những số phận; đằng sau một ký ức là một cách ứng xử với hiện tại. Nhà văn trở về nơi chốn cũ, nhưng mục đích cuối cùng không phải để hoài niệm. Ông tìm trong đó những câu chuyện về con người, rồi từ những câu chuyện riêng ấy gợi ra những điều có ý nghĩa rộng hơn.
Trong hành trình sáng tác kéo dài bốn thập niên, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh từng nhiều lần trở lại tuổi thơ, nhưng tuổi thơ trong tác phẩm của ông chưa bao giờ hoàn toàn đứng yên. Nó đi từ “Lá nằm trong lá” đến “Ngày xưa có một chuyện tình”, từ “Cây chuối non đi giày xanh” đến “Chuyện tình thị trấn”, từ những rung động học trò đến những va đập của đời sống trưởng thành. Địa danh có thể cũ, nhưng câu chuyện về con người thì luôn có khả năng được kể lại.
Có lẽ đó cũng là lý do những vùng đất của Nguyễn Nhật Ánh có thể được nhiều thế hệ độc giả nhận vào ký ức của mình. Một người đọc có thể chưa từng đến Hà Lam, nhưng sau khi đọc sách, lại có cảm giác như mình từng đi qua một con đường nào đó, từng đứng trước một ngôi trường, từng nhìn một thị trấn nhỏ chậm rãi trôi qua những ngày tháng.
Không phải ngẫu nhiên những tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh nhiều lần được lựa chọn để đưa lên màn ảnh rộng. “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” đã đưa thế giới làng quê trong văn chương của ông thành những khuôn hình cụ thể ở Phú Yên; “Mắt biếc” tiếp tục dựng nên một miền ký ức với trường học, làng quê, những đường đồi hoa sim tím và cảnh sắc gắn với tuổi mới lớn; “Ngày xưa có một chuyện tình” lại trở về Phú Yên với những bối cảnh mang màu sắc của “xứ hoa vàng cỏ xanh”. Như vậy, từ trang sách đến màn ảnh, một quá trình thú vị diễn ra: địa lý được văn chương hóa trước khi được điện ảnh hóa. Những nơi chốn vốn là ký ức riêng của nhà văn, qua tác phẩm, trở thành ký ức chung của độc giả; rồi khi bước lên màn ảnh, chúng lại có thêm một đời sống mới, có thể được nhìn thấy, nhận diện và thậm chí trở thành điểm đến ngoài đời thực.
Văn chương, ở nghĩa sâu xa ấy, đã làm một việc mà bản đồ địa lý không thể làm: giữ lại những nơi chốn đã thay đổi hoặc không còn nguyên dạng trong đời sống, đồng thời trao cho chúng một đời sống khác trong trí nhớ của người đọc.
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh từng nói: “Chúng ta không thể tu sửa quá khứ nhưng khi quay về với những gì còn sót lại trong ký ức bằng một trái tim dịu dàng, ta vẫn có cơ hội làm cho quá khứ lung linh hơn”.
Có thể xem đó là một cách nói cô đọng về toàn bộ “địa lý ký ức” trong văn chương của ông. Những vùng đất ấy không được giữ lại bằng cách đóng băng thời gian, mà bằng cách để chúng tiếp tục sống trong những câu chuyện mới. Khi một thị trấn của Quảng Nam xưa trở thành nơi gặp gỡ của hàng triệu độc giả, ký ức riêng của một nhà văn đã trở thành ký ức chung, và trở thành một phần của ký ức văn hóa.
Một “bản đồ” trong ký ức
Trong thế giới văn chương Nguyễn Nhật Ánh, địa danh không chỉ được xác định bằng tên gọi mà còn bằng những dấu hiệu của đời sống: trường học, hàng cây, con đường, bến sông, chợ quê, căn nhà, những mùa hè và những cuộc gặp gỡ. Vì thế, có những nơi trên bản đồ địa lý rất nhỏ nhưng lại chiếm một diện tích lớn trong ký ức văn chương. Đo Đo, Hà Lam hay những làng quê miền Trung ấy, qua nhiều tác phẩm, không còn chỉ thuộc về một địa phương cụ thể mà trở thành những “mã địa lý” để người đọc nhận diện một thế giới Nguyễn Nhật Ánh: thế giới của tuổi thơ, tuổi mới lớn, những rung động đầu đời và quá trình con người bước ra khỏi sự vô tư để đối diện với đời sống.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nguyen-nhat-anh-va-vung-dia-ly-ky-uc.html

