Nguyễn Văn T có phạm tội 'Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có' hay không? Góc nhìn từ thực tiễn pháp lý

Trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, việc xác định một người mua, nhận, đổi hoặc chuyển nhượng tài sản phạm pháp có phạm tội theo Điều 323 BLHS hay không đòi hỏi phải bóc tách đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Chỉ cần thiếu một trong các dấu hiệu cốt lõi, việc kết tội sẽ không đủ căn cứ pháp lý.

Nội dung vụ án: Vào khoảng 12 giờ ngày 28/8/2020, Đỗ Quốc A đi bộ vào Trường Cao đẳng nghề, lợi dụng việc không có người trông coi khu vực để xe đã lấy trộm xe mô tô Honda SH 150i, BKS 65D1 – 378.69 trị giá 62.500.000 đồng của Nguyễn Thành Th. Đến khoảng 6 giờ ngày 30/8/2020, A điều khiển xe trộm được (tháo BKS) đến gặp Nguyễn Mạnh G bán xe nhưng G không mua. G gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T là bạn của G nói có người bán xe Honda SH 150i có giấy đăng ký, T hẹn gặp tại quán cà phê.

Tại đây, A và T trao đổi mua bán xe. A bán xe giá 20.000.000 đồng, do xe không có biển số và dính nhiều bùn đất nên T mua với giá 15.000.000 đồng, A đồng ý bán. T đưa thêm cho A 1.000.000 đồng. Sau đó, A nhiều lần gọi điện mượn tiền, thấy làm phiền nên T đã bán xe SH 150i lại cho người khác (không rõ lai lịch và địa chỉ).

Thực tiễn giải quyết vụ án trên có 2 quan điểm cụ thể:

Quan điểm thứ nhất: Nguyễn Văn T không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Hành vi mua xe Honda SH 150i của Nguyễn Văn T không đủ căn cứ để xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Bởi lẽ, ngoài lời khai của bị cáo, không có chứng cứ chứng minh nào xác định T “biết rõ” xe Honda SH 150i là tài sản do A trộm cắp.

Quan điểm thứ hai: Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”: Theo quy định pháp luật xe ô tô là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và gắn biển số khi lưu thông; khi chuyển dịch quyền sở hữu phải qua công chứng, chứng thực; khi mua các loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, người mua có nghĩa vụ phải biết tính hợp pháp của tài sản mua bán.

Trong vụ án này, khi mua xe T có xem giấy chứng nhận đăng ký xe không phải tên A, đồng thời không có bất kỳ giấy tờ thể hiện A có quyền bán; T làm nghề sửa xe có hiểu biết nhất định về chủng loại và giá cả các loại xe, giá xe mua thấp hơn rất nhiều giá xe thực tế; việc mua bán giữa T và A không được cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Từ những phân tích đã nêu, hành vi của T đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Chúng tôi đồng nhất với quan điểm thứ hai: Về quy định pháp luật thì theo khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 30/11/2011 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước, VKSNDTC, TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội “Rửa tiền” quy định:

2. Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội”.

Như vậy, quy định trên đã giải thích khái niệm “biết rõ” trong tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là “có căn cứ chứng minh”, chứ không nêu là đối tượng phải “khai nhận” hoặc nhận tội mới là “biết rõ”.

Cụm từ “có căn cứ chứng minh” bao gồm các tài liệu, chứng cứ vật chất mà Cơ quan điều tra thu thập được, chứ không phải là duy nhất chứng cứ về chủ quan (lời khai nhận) của tội phạm.

Phiên toà xét xử do Thẩm phán Nguyễn Thị Kim Phượng - TAQS khu vực QK9 làm chủ toạ

Phiên toà xét xử do Thẩm phán Nguyễn Thị Kim Phượng - TAQS khu vực QK9 làm chủ toạ

Ngoài ra, kế thừa Thông tư liên tịch số 09/2011, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã giải thích thế nào là “có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội” tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 324 của BLHS năm 2015 về tội rửa tiền như sau:

“4. Biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có là một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội trực tiếp biết được tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có (ví dụ: người phạm tội được người thực hiện hành vi phạm tội nguồn cho biết là tiền, tài sản do họ phạm tội mà có);

b) Qua các phương tiện thông tin đại chúng, người phạm tội biết được người khác thực hiện hành vi phạm tội nguồn (ví dụ: hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm nguồn đã được báo, đài phát thanh, truyền hình đưa tin);

c) Bằng nhận thức thông thường, người phạm tội có thể biết được tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có (ví dụ: biết chồng là nhân viên của cơ quan nhà nước có mức lương là 08 triệu đồng/tháng và không có nguồn thu nhập khác nhưng A vẫn nhận của chồng số tiền 10 tỷ đồng để góp vốn vào doanh nghiệp mà không hỏi rõ về nguồn tiền);

d) Theo quy định của pháp luật, người phạm tội buộc phải biết nguồn gốc tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có (ví dụ: A mua xe ô tô của B không có giấy tờ với giá bằng một phần mười trị giá của chiếc xe đó)”

Qua quy định trên cho thấy, mặc dù quy định này hướng dẫn cho tội rửa tiền theo Điều 324 BLHS năm 2015, tuy nhiên đều hướng dẫn về cách nhận biết, đánh giá thế nào là trường hợp“biết hay có cơ sở để biết tài sản là do người khác phạm tội mà có” nên có thể vận dụng đối với tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Nghiên cứu hướng dẫn tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP thì chỉ duy nhất nội dung trong điểm a là đề cập đến vấn đề đối tượng tiêu thụ trực tiếp biết được tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có.

Các điểm còn lại (gồm điểm b, c, d) thì đưa ra các trường hợp buộc đối tượng phải tự nhận thức được đó là tài sản phạm pháp, như: Biết tài sản do phạm tội mà có qua phương tiện thông tin đại chúng (điểm b); bằng nhận thức thông thường có thể biết được nguồn gốc tiền của người thân (điểm c); theo quy định của pháp luật thì buộc phải biết nguồn gốc tài sản vì đây là tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền (điểm d).

Như vậy, về mặt căn cứ pháp luật đã có văn bản hướng dẫn việc đánh giá thế nào là trường hợp “biết rõ” hoặc “biết” hoặc “có cơ sở để biết” tài sản là do người khác phạm tội mà có.

Trong vụ án này, khi A bán xe cho T, xe không có biển số và xe đứng tên người khác nhưng không có giấy uỷ quyền hay bất kỳ giấy tờ gì thể hiện chủ sở hữu nhờ A bán xe (theo quy định tại khoản 2 Điều 431 Bộ luật Dân sự: “Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán”); chiếc xe SH 150i có giá trị theo kết luận định giá tài sản là 62.500.000 đồng nhưng chỉ bán với giá 15.000.000 đồng, T cho A thêm 1.000.000 đồng.

Những ngày sau đó, A điện thoại cho T nhiều lần để xin thêm tiền, vì không muốn làm phiền và muốn thu hồi lại số tiền đã mua xe nên đã bán lại cho một người khác. Mặc dù, T khai nhận không biết xe Sh 150i là tài sản mà A trộm cắp nhưng giá trị chiếc xe là 62.500.000 đồng, quy định của pháp luật về mua bán tài sản phải có đăng ký quyền sở hữu và diễn biến của vụ việc cho thấy rằng T biết rõ chiếc xe SH 150i mua của A là tài sản trộm cắp mà có.

Vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Trên đây là quan điểm xử lý vụ án của chúng tôi, rất mong có nhiều ý kiến của các đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

Nguyễn Thị Kim Phượng - TAQS khu vực QK9

Nguồn CL&XH: https://xahoi.congly.vn/nguyen-van-t-co-pham-toi-tieu-thu-tai-san-do-nguoi-khac-pham-toi-ma-co-hay-khong-goc-nhin-tu-thuc-tien-phap-ly-539477.html