Nhà văn như con nhện giăng tơ giữa bóng đêm im lặng

Như con nhện giăng tơ, nhà văn Doan Bui viết về nỗi đau mất con trong “Xứ sở vô danh” một cách bền bỉ và im lặng. Thông qua văn chương, chị học cách sống chung với nỗi đau mất mát.

 Từ phải qua: PGS.TS Phạm Văn Quang, nhà văn Doan Bui (Bùi Đoan Thùy), nhà văn Mai Anh Đào trong buổi giao lưu, giới thiệu sách Xứ sở vô danh. Ảnh: Đức An.

Từ phải qua: PGS.TS Phạm Văn Quang, nhà văn Doan Bui (Bùi Đoan Thùy), nhà văn Mai Anh Đào trong buổi giao lưu, giới thiệu sách Xứ sở vô danh. Ảnh: Đức An.

Người phụ nữ đứng trước chiếc thùng rác màu vàng. Rác hữu cơ, bìa carton, chai nhựa, những bao bì sặc sỡ… từng thứ mùi sực nức bốc lên khiến cổ họng cô nghẹn lại, dạ dày cuộn lên vì buồn nôn.

Trên tay cô là tập bản thảo mang tên Truyện của Mê-Linh. Mê Linh là tên cô đặt cho đứa con gái sinh non, qua đời khi mới 15 ngày tuổi. Từ đó, cô trở thành một “người-mực”.

Mực là loài động vật thân mềm, phun mực để đánh lạc hướng kẻ thù và tìm đường thoát thân. Người mẹ vừa mất con cũng nhả ra những con chữ để trốn chạy. Cả hai đều muốn biến mất khỏi tầm mắt của thế giới, để mọi người, kể cả chính mình, quên đi nỗi đau rằng đứa trẻ đã không còn.

Đó là hình ảnh mở ra một trong những lớp nghĩa của Xứ sở vô danh, cuốn sách của Doan Bui, nhà báo Pháp gốc Việt. Trong tác phẩm, người mẹ tìm đến văn chương để đối diện cái chết của con gái. Với cô, viết cũng đồng nghĩa với việc liên tục chạm vào vết thương mà bản thân muốn trốn tránh.

Viết là rạch vào vết thương để tìm đường sống

Tại buổi giới thiệu sách ở TP.HCM sáng 17/10, PGS.TS Phạm Văn Quang (Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa châu Âu, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM) chỉ ra nghịch lý của văn chương. Theo ông, viết vốn là hoạt động sáng tạo mang tính cá nhân nhưng khi tác phẩm đến với công chúng, người đọc thường kỳ vọng tìm thấy ở đó một giá trị nào đó cho mình.

Tuy nhiên, giá trị của văn chương không nhất thiết nằm ở những câu trả lời mà tác phẩm mang lại, nó nằm ở những câu hỏi được khơi gợi. PGS Quang cho rằng tác phẩm Xứ sở vô danh có thể khiến độc giả chất vấn về nỗi đau, cái chết, sự mất mát và tình mẫu tử, từ đó tự tìm cách đối diện với những trải nghiệm của chính mình.

“Cuốn sách này không viết để xin được an ủi, cuốn sách này viết để được xoa dịu. Văn chương không phải là vấn đề chữa lành theo nghĩa của y học. Nhưng khi viết ra được, bản thân tác giả đã giải tỏa được. Đó cũng là một hình thức chữa lành cho bản thân”, ông nhận định về tác phẩm của Doan Bui.

 Tác phẩm Xứ sở vô danh kể về hành trình học cách sống chung với nỗi đau mất con của một người mẹ. Ảnh: NXB Kim Đồng.

Tác phẩm Xứ sở vô danh kể về hành trình học cách sống chung với nỗi đau mất con của một người mẹ. Ảnh: NXB Kim Đồng.

Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu, văn chương không đóng vai trò như một liều thuốc mê dập tắt nỗi đau hay một liệu pháp y khoa điều trị dứt điểm tổn thương. Văn chương vận hành như một không gian cho phép người viết can đảm đối diện sự thật cay đắng nhất. Sự mất mát đứa con là trải nghiệm tận cùng mà ngoài người mẹ ra, không ai có thể sống và cảm nhận trọn vẹn. Khi đặt bút viết, người mẹ chấp nhận thực hiện một hành vi bóc tách tâm trí đầy đau đớn.

Chính nhà văn Doan Bui cũng từng chia sẻ về nguồn gốc từ nguyên của hành vi viết (écrire) trong các ngôn ngữ châu Âu, vốn bắt nguồn từ căn tố sker mang nghĩa là cào, khắc hay rạch sâu vào da thịt. Viết một cuốn sách giống việc lột lớp vỏ cây (liber) để lộ ra phần thịt sống và vết thương bên trong. Nếu bị bỏ quên hay đè nén trong im lặng, vết thương sẽ hoại tử; nhưng khi chấp nhận rạch vào lớp máu khô để con chữ thấm vào, người viết lại tìm thấy dưỡng khí để tiếp tục tồn tại.

“Ta viết như rạch, như cào lớp vỏ, lớp máu khô, lớp sơn bong tróc hay giấy dán tường trên một bức tường; và giống như cồn thoa lên vết thương, nó xót, nó rát. Nhưng ta vẫn tiếp tục. Bởi sách giúp ta đứng vững trong sự cô độc vô tận của tang thương”, tác giả viết.

Viết như con nhện giăng tơ

Tại buổi giới thiệu sách, Doan Bui chia sẻ: “Tôi thường so sánh hành động viết lách giống như công việc của một con nhện. Con nhện giăng một tơ nhện, và đúng là ta có cảm giác sợi tơ ấy rất mỏng manh, đôi khi vô hình, chỉ đến sáng sớm mới trở nên lung linh”.

Theo cô, công việc của con nhện thoạt nhìn có vẻ vô nghĩa. Những sợi tơ mỏng manh có thể bị phá hủy, buộc nó phải giăng lại từ đầu. Việc viết lách cũng mang dáng dấp của sự bền bỉ đó. Người viết kiên nhẫn kết nối những sợi tơ ngôn từ, dù biết chúng có thể mong manh và hành trình viết luôn đòi hỏi phải bắt đầu lại.

Tuy nhiên, mong manh không đồng nghĩa với yếu ớt. Tơ nhện chắc chắn hơn ta tưởng tượng, cũng như những con chữ tưởng chừng vô ích vẫn có thể nối con người với nhau sau im lặng. Viết là cách con người đối diện với vết thương trước khi nó bị sự im lặng làm cho nhiễm trùng. Nhà văn vẫn viết, như con nhện vẫn giăng tơ, bởi đó là cách tìm đường sống và giữ lấy khả năng kết nối với thế giới.

 Nhà văn Doan Bui so sánh tác giả viết sách như một con nhện giăng tơ, một người đối diện với nỗi đau như tìm thấy con đom đóm trong đêm tối. Ảnh: Đức An.

Nhà văn Doan Bui so sánh tác giả viết sách như một con nhện giăng tơ, một người đối diện với nỗi đau như tìm thấy con đom đóm trong đêm tối. Ảnh: Đức An.

Trong Xứ sở vô danh, kết nối bắt đầu từ ký ức của tác giả về người con gái qua đời khi mới 15 ngày tuổi. Cuốn sách cũng lưu giữ hình bóng những người thân đã khuất như bà ngoại của tác giả.

Doan Bui ví sách như những con đom đóm trong đêm tối. Ánh sáng của đom đóm là thứ ánh sáng nhỏ nhoi giúp người ta tìm thấy phương hướng giữa bóng đêm của mất mát. Và chỉ trong đêm tối, người ta mới nhìn thấy ánh sáng của đom đóm.

Tác giả kể về những bức thư bản thân nhận được từ độc giả Pháp sau khi ra mắt tác phẩm: “Khi một cuốn sách ra đời, nó không còn thuộc về tác giả nữa mà thuộc về độc giả. Tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn từ những người trải qua nỗi đau mất mát, họ nói rằng những từ ngữ này đã giúp đỡ họ. Đó là phần thưởng lớn nhất đối với một nhà văn, bởi vì chính bản thân tôi lúc đó cũng được sách vở cứu rỗi”.

Đọc lại tác phẩm bằng tiếng Việt, Đoan Bùi tìm thấy một từ gói ghém tinh thần cuốn sách: “thương”. Chị nhận ra từ này vừa gợi tình yêu thương, vừa gắn với “vết thương”. Với tác giả, đau buồn là phần không thể tách rời của tình yêu dành cho người đã khuất. Xóa bỏ nỗi đau cũng có nghĩa phủ nhận tình yêu.

Theo chị, văn chương không thể đưa người đã khuất trở về hay xóa sạch đau buồn. Giá trị của nó nằm ở khả năng giúp người ở lại gọi tên nỗi đau, nhận ra tình yêu vẫn còn hiện diện và tìm thấy sự đồng cảm trong câu chuyện của người khác. Những sợi tơ chữ nghĩa cứ thế nối những con người xa lạ, để sự im lặng không còn là nơi mỗi người phải chịu đựng mất mát một mình.

Đức An

Nguồn Znews: https://znews.vn/nha-van-nhu-con-nhen-giang-to-giua-bong-dem-im-lang-post1690261.html