Nhân viên y tế thôn, cô đỡ thôn bản yên tâm công tác khi phụ cấp tăng

Với những cô đỡ thôn bản, tăng hỗ trợ phụ cấp không chỉ là sự động viên về vật chất mà còn là sự ghi nhận xứng đáng.

Tăng phụ cấp, nhân viên y tế có nguồn lực để bám địa bàn

Chính phủ ban hành Nghị định 192/2026/NĐ-CP quy định chế độ hỗ trợ hằng tháng với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Nghị định 192/2026/NĐ-CP Quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế; hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.

Tại Nghị định, Chính phủ quy định chế độ hỗ trợ hằng tháng với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Trong thời gian công tác, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản được hỗ trợ hằng tháng.  Mức hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản bằng 0,7 lần hoặc 0,5 lần so với mức lương cơ sở, được quy định như sau:

Mức 0,7 lần áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại: các thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên; các thôn, bản tại các xã vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ; các tổ dân phố, khu phố có từ 500 hộ gia đình trở lên;

Mức 0,5 lần áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại thôn, bản, tổ dân phố còn lại.

Nhân viên y tế , cô đỡn thôn bản là "cánh tay nối dài" của ngành y tế. Ảnh: T.A

Nhân viên y tế , cô đỡn thôn bản là "cánh tay nối dài" của ngành y tế. Ảnh: T.A

Từ 1/7/2026, mức lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng, mức hỗ trợ đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản cũng được điều chỉnh tăng tương ứng. Theo đó, nhóm được hưởng mức hỗ trợ bằng 0,7 lần lương cơ sở sẽ nhận khoảng 1,771 triệu đồng/tháng. Nhóm được hưởng mức hỗ trợ bằng 0,5 lần lương cơ sở sẽ nhận khoảng 1,265 triệu đồng/tháng, cao hơn so với mức đang áp dụng trước đây.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xác định cụ thể số lượng nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản; quy định cụ thể mức hỗ trợ cụ thể hằng tháng của nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn bản nhưng không thấp hơn mức hỗ trợ quy định tại khoản 2 Điều này.

Theo các quy định hiện hành, chế độ hỗ trợ đối với nhân viên y tế thôn, bản chủ yếu được thực hiện theo các quyết định của Thủ tướng ban hành từ nhiều năm trước. Trên cơ sở đó, mức hỗ trợ cụ thể do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, căn cứ điều kiện ngân sách và đặc thù từng địa phương. Vì vậy, mức hỗ trợ thực tế giữa các địa phương có sự khác biệt.

Thực tế tại nhiều địa phương, mức hỗ trợ cho nhân viên y tế thôn, bản hiện còn khá thấp. Tại một số tỉnh, mức hỗ trợ phổ biến chỉ khoảng 500.000-700.000 đồng mỗi tháng. Một số địa phương như Hà Nội áp dụng mức hỗ trợ khoảng 0,3-0,5 lần lương cơ sở, trong khi TPHCM chi khoảng 1-1,2 triệu đồng mỗi tháng cho lực lượng y tế khu phố, ấp.

Trong khi đó, lực lượng y tế thôn, bản đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng tại cơ sở. Họ tham gia tuyên truyền phòng bệnh, theo dõi sức khỏe người dân, hỗ trợ công tác tiêm chủng, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em cũng như phối hợp với trạm y tế trong các chương trình y tế cộng đồng.

Theo thống kê của ngành y tế, hiện cả nước có khoảng 120.000 nhân viên y tế thôn, bản và tổ dân phố tham gia mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Đây được xem là "cánh tay nối dài" của hệ thống y tế trong việc đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần hơn với người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng khó khăn.

Tuy nhiên, mức hỗ trợ thấp và thiếu ổn định khiến một số địa phương gặp khó khăn trong việc duy trì lực lượng này. Ở một số nơi đã xảy ra tình trạng nhân viên y tế thôn, bản nghỉ việc hoặc phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế cơ sở.

Với những cô đỡ thôn bản ở vùng cao, mỗi lần được hỗ trợ phụ cấp không chỉ là sự động viên về vật chất mà còn là sự ghi nhận đối với công việc âm thầm chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em nơi bản làng xa xôi.

Cô đỡ Thào Thị Pà, dân tộc Mông, trở về thôn Pờ Sì Ngài, xã Bản Xèo, tỉnh Lào Cai, đã có nhiều năm đồng hành cùng phụ nữ trong thôn. Công việc của cô gắn với những cuộc gọi bất chợt giữa đêm, những lần vượt đường xa đến nhà sản phụ, hướng dẫn chị em chăm sóc thai kỳ, nhận biết dấu hiệu nguy hiểm và vận động phụ nữ đến cơ sở y tế khi cần thiết.

Vì cùng là người Mông, nói được tiếng dân tộc và hiểu phong tục, tập quán của bà con nên cô Pà có nhiều thuận lợi khi tuyên truyền, vận động. Có những gia đình ban đầu còn e ngại chuyện đi khám thai hoặc sinh con tại cơ sở y tế, cô kiên trì giải thích, vận động từng lần để chị em hiểu và thay đổi.

Biết thông tin phụ cấp dành cho cô đỡ thôn bản được tăng, cô Pà cho biết bản thân rất vui. Với cô, khoản phụ cấp dù không lớn nhưng là nguồn động viên thiết thực, giúp những người làm công việc này có thêm điều kiện tiếp tục gắn bó với bà con.

"Chúng tôi vui vì công việc của cô đỡ thôn bản được quan tâm, ghi nhận. Đi đến từng nhà, vận động chị em, có khi đêm hôm cũng phải đi, nhưng chỉ cần mẹ tròn con vuông là mình thấy vui rồi", cô Pà chia sẻ.

Với cô đỡ Thào Thị Pà, điều khiến cô gắn bó không chỉ là khoản phụ cấp mà còn là niềm vui khi được chứng kiến những em bé khỏe mạnh chào đời, những người mẹ được chăm sóc an toàn và bà con ngày càng tin tưởng vào việc chăm sóc sức khỏe.

Khẳng định vai trò "cánh tay nối dài" của ngành y tế

Y sĩ Lò Thị Thanh (48 tuổi), hiện công tác tại Trạm y tế xã Dào San, tỉnh Lai Châu, cho biết chị rất vui khi chính sách phụ cấp dành cho nhân viên y tế thôn bản được quan tâm, điều chỉnh tăng. Theo chị, đây là sự động viên thiết thực đối với những người đang ngày ngày làm công việc chăm sóc sức khỏe cho bà con ở vùng khó khăn.

Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui, chị Thanh cũng có một số băn khoăn. Theo chị, nếu thực hiện sắp xếp, sáp nhập các thôn, bản, địa bàn của mỗi thôn có thể rộng hơn rất nhiều. Trong khi đó, ở miền núi, khoảng cách giữa các khu dân cư xa, đường đi lại khó khăn, có nơi từ thôn này đến khu dân cư khác cách nhau 8-9 km.

"Nếu sau sáp nhập, một thôn có địa bàn quá rộng mà chỉ bố trí một nhân viên y tế thôn bản thì sẽ rất khó. Phụ cấp có tăng nhưng nếu phải đi lại quá nhiều, phụ trách một địa bàn quá lớn thì tôi e rằng nhiều người sẽ khó duy trì công việc lâu dài", chị Thanh nói.

Y sĩ Thanh cho rằng, cần tính đến đặc thù địa hình miền núi khi bố trí nhân viên y tế thôn bản. Bởi ngoài thời gian trực tiếp chăm sóc, tuyên truyền, vận động người dân, họ còn phải mất nhiều thời gian và công sức để di chuyển đến từng hộ gia đình.

Theo Cục trưởng Vụ Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) Đinh Anh Tuấn, cách đây 30 năm, tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh tại các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa rất cao; nguyên nhân chính là do tập quán, thói quen không đi khám thai, chỉ đẻ tại nhà, không có cán bộ y tế hỗ trợ.

Từ năm 1990, có 3.077 cô đỡ thôn, bản được đào tạo đã góp phần cải thiện đáng kể sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Tuy nhiên, số lượng cô đỡ thôn, bản cứ giảm dần, chỉ còn 1.549 cô đỡ thôn, bản đang hoạt động tại 28 tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền núi phía bắc và Tây Nguyên.

Nhờ có cô đỡ thôn, bản, kiến thức và thực hành chăm sóc sức khỏe của phụ nữ dân tộc đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ phụ nữ biết cách chăm sóc thai nghén, phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm trong thời gian mang thai, sau sinh đã được cải thiện. Số lượng phụ nữ có thai chủ động chăm sóc sức khỏe bản thân, đi khám thai đủ ba lần, sinh đẻ tại trạm y tế, tiêm phòng uốn ván, uống viên sắt… tại các cơ sở y tế tăng lên rõ rệt.

Bên cạnh đó, nhờ được sự chăm sóc, hỗ trợ của cô đỡ thôn, bản, nhiều ca tai biến được phát hiện sớm, kịp thời chuyển tuyến trên, tránh được tử vong mẹ và trẻ sơ sinh... Điểm mạnh của đội ngũ cô đỡ thôn, bản là có cùng ngôn ngữ, phong tục, tập quán và tín ngưỡng, lại ở ngay trong cộng đồng, cho nên dễ dàng tiếp cận các bà mẹ, trẻ em và cung cấp dịch vụ phù hợp, được đồng bào dân tộc thiểu số tin tưởng, chấp nhận.

Tuy nhiên, từ cuối năm 2019, nhiều địa phương không bố trí được kinh phí hỗ trợ đội ngũ này. Đến tháng 1/2023, số cô đỡ thôn, bản được hưởng phụ cấp đã giảm xuống chỉ còn 911 người, trong đó 732 người kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản. Đáng chú ý, có đến 638 cô đỡ chưa được hưởng phụ cấp nhưng vẫn hoạt động, ngày đêm tham gia chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. 60% số cô đỡ thôn, bản không có đủ trang, thiết bị, vật tư y tế (gói đỡ đẻ sạch) để hoạt động. Từ đó, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh cũng bị ảnh hưởng.

Trước đây, theo quy định của Quyết định 75/2009/QĐ-TTg, cô đỡ thôn, bản được hưởng mức phụ cấp 0,3 hoặc 0,5 mức lương cơ sở tùy theo địa bàn hoạt động ở khu vực II hay khu vực III. Từ khi có Nghị định 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ, nhiều địa phương đã dừng chi trả phụ cấp cho y tế thôn, bản nói chung và cô đỡ thôn, bản nói riêng.

Kinh phí để duy trì hoạt động đội ngũ này chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách địa phương, trong khi, hầu hết địa phương có cô đỡ thôn, bản hoạt động đều là những tỉnh miền núi, chưa đủ khả năng tự cân đối ngân sách. Mức phụ cấp theo quy định mới sẽ góp phần giúp các nhân viên y tế, cô đỡ thôn bản yên tâm công tác, chung tay vì sức khỏe nhân dân.

Theo Bộ Y tế, chính sách này không chỉ nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng cho người lao động, mà còn góp phần củng cố, ổn định mạng lưới y tế cơ sở – nền tảng của hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tô Hội

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/nhan-vien-y-te-thon-co-do-thon-ban-yen-tam-cong-tac-khi-phu-cap-tang-169260929160533388.htm