Nhập khẩu nông, lâm, thủy sản tăng gần 12%

6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 26,68 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhiều mặt hàng nguyên liệu như đậu tương, ngô, lúa mì, hạt điều và rau quả ghi nhận mức tăng trưởng cao, cho thấy nhu cầu phục vụ sản xuất, chế biến và xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục gia tăng.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT), giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 6/2026 ước đạt 4,68 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 26,68 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nhập khẩu, nhóm nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với kim ngạch 17,08 tỷ USD, tăng 16,1%. Tiếp đến là sản phẩm chăn nuôi đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9%; lâm sản đạt 1,84 tỷ USD, tăng 19,9%. Trong khi đó, nhập khẩu thủy sản giảm nhẹ 1,1%, còn 1,56 tỷ USD; nhóm đầu vào sản xuất đạt 3,45 tỷ USD, giảm 11,5%. Đáng chú ý, nhiều mặt hàng nguyên liệu phục vụ chế biến ghi nhận mức tăng trưởng rất cao.

Nhập khẩu đậu tương đạt 1,9 triệu tấn, trị giá 901 triệu USD, tăng 53,7% về lượng và 61,7% về giá trị. Brazil và Hoa Kỳ tiếp tục là hai nguồn cung lớn nhất, chiếm hơn 90% tổng giá trị nhập khẩu.

6 tháng đầu năm 2026 Việt Nam nhập 1,7 triệu tấn ngô. Ảnh: TL

6 tháng đầu năm 2026 Việt Nam nhập 1,7 triệu tấn ngô. Ảnh: TL

Lúa mì cũng tăng mạnh với 4,8 triệu tấn, trị giá 1,23 tỷ USD, tăng hơn 56% về lượng. Tương tự, nhập khẩu ngô đạt 6,9 triệu tấn, trị giá 1,75 tỷ USD, tăng trên 50% cả về sản lượng và giá trị, chủ yếu từ Brazil và Argentina.

Nhập khẩu ngô tiếp tục tăng mạnh với khối lượng tháng 6 đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 428,9 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 6,9 triệu tấn, trị giá 1,75 tỷ USD, tăng 56,1% về khối lượng và tăng 51,8% về giá trị. Brazil và Argentina là hai nguồn cung ngô chủ lực với thị phần lần lượt 43,7% và 31,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu từ Brazil tăng 2,3 lần, trong khi từ Argentina giảm 19,4%.

Theo các chuyên gia, việc gia tăng nhập khẩu các loại ngũ cốc và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi phản ánh nhu cầu sản xuất trong nước tiếp tục mở rộng, đặc biệt đối với ngành chăn nuôi, chế biến thực phẩm và công nghiệp chế biến xuất khẩu.

Xét theo thị trường khu vực, Việt Nam nhập khẩu nông lâm thủy sản chủ yếu từ châu Á và châu Mỹ với thị phần lần lượt đạt 32,3% và 22,9%. Ba khu vực còn lại gồm châu Âu, châu Đại Dương và châu Phi chiếm thị phần lần lượt 3,8%, 3,4% và 2,9%.

So với cùng kỳ năm 2025, nhập khẩu từ châu Á tăng 17,7%; châu Mỹ tăng 5,4%; châu Đại Dương tăng 14%; trong khi nhập khẩu từ châu Âu giảm 10,2% và châu Phi giảm 15,3%. Mặc dù nhập khẩu tăng, cán cân thương mại toàn ngành nông lâm thủy sản vẫn duy trì thặng dư. Trong đó, nhóm lâm sản đạt thặng dư 7,36 tỷ USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2025; nhóm thủy sản thặng dư 4,13 tỷ USD, tăng 17%; nhóm nông sản thặng dư 1,51 tỷ USD, giảm 60,6%. Xét theo mặt hàng cụ thể, có 6 mặt hàng NLTS có thặng dư thương mại ước tính 6 tháng đầu năm 2026 đạt trên 1 tỷ USD, gồm: gỗ và sản phẩm gỗ thặng dư 6,73 tỷ USD, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; cà phê thặng dư 4,58 tỷ USD, giảm 15%; hàng rau quả thặng dư 2,08 tỷ USD, tăng 9,3%; tôm thặng dư 2,07 tỷ USD, tăng 21,5%; gạo thặng dư 1,58 tỷ USD, tăng 6%; cá tra thặng dư 1,04 tỷ USD, tăng 12,1%.

Có 6 mặt hàng NLTS có thâm hụt thương mại ước tính 6 tháng đầu năm 2026 vượt 1 tỷ USD, gồm: ngô thâm hụt 1,66 tỷ USD, tăng 53,8% so với cùng kỳ năm trước; chế phẩm từ sản phẩm trồng trọt thâm hụt 1,6 tỷ USD, tăng 11,8%; bông các loại thâm hụt 1,55 tỷ USD, giảm 4,3%; lúa mì thâm hụt 1,21 tỷ USD, tăng 51,7%; thức ăn gia súc và nguyên liệu thâm hụt 1,19 tỷ USD, giảm 31,1%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật thâm hụt 1,01 tỷ USD, tăng 29,7%.

Thanh Bình

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nhap-khau-nong-lam-thuy-san-tang-gan-12.html