Nhiều cổ phiếu ngân hàng về quanh mệnh giá, liệu đã đủ hấp dẫn?
Nhiều cổ phiếu ngân hàng tìm về vùng quanh mệnh giá 10.000 đồng/cp trong bối cảnh thị trường biến động. Liệu đây đã là cơ hội tốt để xuống tiền là câu hỏi được nhiều nhà đầu tư quan tâm?
Tính đến phiên giao dịch ngày 15/10, nhóm cổ phiếu ngân hàng đón nhận hàng loạt cổ phiếu tìm về với vùng giá thấp. Cụ thể, OCB của Ngân hàng TMCP Phương Đông, BVB của Ngân hàng TMCP Bản Việt, SHB của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội hay BAB của Ngân hàng TMCP Bắc Á, KLB của Ngân hàng TMCP Kiên Long đang giao dịch ở sát vùng mệnh giá. Đáng chú ý là cổ phiếu VAB của Ngân hàng TMCP Việt Á hay PGB của Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển chỉ còn mức giá quanh 9.000 đồng/cp.
Thị giá thấp cũng khiến nhóm cổ phiếu trên ghi nhận mức vốn hoá thị trường thấp nhất trong nhóm ngân hàng.

Ảnh minh hoạ
Định giá thị trường của nhóm ngân hàng đang ở mức P/E khoảng 8-9 lần, mức hấp dẫn đối với nhà đầu tư dài hạn. Đáng chú ý, sự phân hoá trong nhóm cổ phiếu ngân hàng khá lớn. Tính từ đầu năm đến nay, trong khi một vài cổ phiếu vẫn giữ được mức tăng lớn 30-40% như MSB, ABB, thì khá nhiều cổ phiếu điều chỉnh giảm như SHB giảm trên 30%; BVB, EIB lại mất tới 20-30%.
Việc nhiều cổ phiếu ngân hàng lùi về vùng giá thấp đang mở ra nhiều cơ hội hơn cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, khi nguồn hàng trở nên phong phú hơn, sự lựa chọn của nhà đầu tư lại cần cẩn trọng hơn.
Đòn bẫy từ tăng vốn?
Hàng loạt ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn hay tăng vay từ nước ngoài. Theo kế hoạch, NVB sẽ phát hành riêng lẻ hơn hơn 3.300 triệu cổ phiếu, tương đương 33.000 tỷ đồng; PVcomBank phát hành thêm khoảng 33% cổ phiếu, tương ứng 4.088 tỷ đồng. Trong khi phần lớn các ngân hàng lớn phát hành dưới 15% số lượng cổ phiếu trước phát hành nhiều ngân hàng nhỏ hơn trong danh sách trên lại ghi nhận những kế hoạch tăng vốn vượt trội.
Trước đó, SHB ghi nhận khoản vay hợp vốn từ nhiều định chế tài chính nước ngoài lên tới 600 triệu USD; NAB cũng ghi nhận khoản vay hợp vốn lên tới 350 triệu USD.
Nguồn vốn bổ sung có thể giúp ngân hàng ỷ lệ an toàn vốn, duy trì tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh áp lực thanh khoản tăng cao. Tuy nhiên, tăng vốn không đồng nghĩa lợi nhuận sẽ tăng tương ứng.
Theo đánh giá từ SSI Research, xét về cơ hội giao dịch ngắn hạn, kế hoạch tăng vốn có thể sẽ là yếu tố hỗ trợ đối với một số ngân hàng. Tuy nhiên, việc phát hành thêm giúp các ngân hàng này củng cố nguồn vốn nhưng cũng làm tăng số lượng cổ phiếu lưu hành, pha loãng cổ phiếu và có thể ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông hiện hữu nếu lợi nhuận không tăng tương ứng.
Áp lực bổ sung vốn cho hệ thống ngân hàng được cho sẽ còn kéo dài để đảm bảo hoạt động các ngân hàng khi bối cảnh vốn từ tín dụng vẫn chiếm ưu thế. Điều quan trọng là nhà đầu tư vẫn cần xem xét khả năng chuyển hóa nguồn vốn mới thành lợi nhuận và chất lượng tăng trưởng tín dụng. Hiệu quả sử dụng vốn sẽ là thước đo hữu hiệu cho giá trị cổ phiếu.
Áp lực từ lãi suất?
Lãi suất cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, đặc biệt ở nhóm SME, hộ kinh doanh và người mua nhà. Theo đó, nợ xấu trở thành thách thức với cho toàn ngành ngân hàng, đặc biệt với ngân hàng cổ phần.
Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của SSI được dự báo sẽ tăng lên 1,72% trong năm 2027, cao hơn 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ dù mức độ suy giảm sẽ không đồng đều. Nhóm ngân hàng thương mại với tỷ trọng cho vay bất động sản và SME lớn sẽ có mức tăng dự kiến lớn hơn.
Trong khi đó, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành được dự báo giảm 2 điểm cơ bản, xuống 3,11%. NIM của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước có thể tăng 2 điểm cơ bản, nhưng nhóm ngân hàng thương mại cổ phần dự kiến giảm 8 điểm cơ bản do chịu áp lực chi phí huy động.
Xu hướng tín dụng dịch chuyển sang lĩnh vực hạ tầng cũng có thể gây sức ép lên NIM, khi ngân hàng phải tài trợ các khoản vay dài hạn, biên lợi nhuận thấp bằng nguồn vốn có chi phí cao hơn trong bối cảnh lãi suất khó giảm mạnh.
Cổ phiếu rẻ không đồng nghĩa với việc sẽ mang lại lợi nhuận tốt cho nhà đầu tư. Tăng trưởng phải gắn với chất lượng và bền vững, theo đó, năng lực quản lý rủi ro tốt, nền tảng huy động chắc, mức trích lập dự phòng phù hợp hay khả năng tạo dòng tiền của khách hàng vay sẽ là yếu tố quan trọng quyết định giá trị cổ phiếu ngân hàng.



