Nhiều nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng trong xây dựng pháp luật về Kiểm toán nhà nước
Theo Nghị quyết số 171-NQ/ĐU, Kiểm toán nhà nước (KTNN) sẽ xây dựng và trình Quốc hội ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung Luật KTNN; xây dựng và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2045... Nghị quyết cũng đề ra các nhóm giải pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động KTNN.

Ảnh minh họa: TL
Mới đây, tại Nghị quyết số 171-NQ/ĐU của Ban Chấp hành Đảng bộ KTNN, Đảng ủy KTNN đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong nhiệm kỳ 2025-2030 về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của KTNN theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị.
Theo đó, phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, phát huy cao độ tính Đảng trong xây dựng và thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của KTNN. Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của KTNN và tăng cường kiểm tra, giám sát công tác này; lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, đi đầu trong chấp hành và tuân thủ pháp luật, lan tỏa tinh thần thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.
Xác định xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của KTNN và kiểm tra, giám sát việc thực thi là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên của KTNN và các đơn vị trực thuộc; thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật, các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thi hành.
Người đứng đầu đơn vị được giao chủ trì xây dựng phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng văn bản, chịu trách nhiệm chính về chất lượng và tiến độ xây dựng văn bản; gắn với công tác đánh giá, khen thưởng, sử dụng cán bộ và có chế tài, biện pháp xử lý đối với người không thực hiện đầy đủ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng văn bản.
Ngoài ra, phải có cơ chế điều động, luân chuyển, tham gia thực tiễn kiểm toán đối với công chức làm công tác pháp chế, xây dựng văn bản để bổ sung kinh nghiệm thực tiễn.
Hai là, đổi mới tư duy, định hướng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý theo hướng: Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý, đặc biệt là xây dựng Luật KTNN, Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2045 phải thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước. Các quy định phải mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, bám sát thực tiễn, bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành...
Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2045 bảo đảm bám sát bối cảnh mới của đất nước, yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị và định hướng phát triển quốc gia trong thời kỳ mới; phù hợp với yêu cầu hoàn thiện thể chế, hiện đại hóa hoạt động kiểm toán, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
Coi trọng, chủ động nghiên cứu chiến lược, chính sách từ sớm, từ thực tiễn, từ kinh nghiệm thế giới, góp phần tăng cường tính dự báo và chất lượng công tác xây dựng văn bản. Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý phải bảo đảm thực hiện dân chủ, chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả. Các hoạt động tổng kết, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đánh giá tác động chính sách, lựa chọn chính sách phải được thực hiện kỹ lưỡng, thực chất, khoa học. Thực hiện nghiêm túc cơ chế tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của các đối tượng chịu sự tác động.
Ba là, tạo đột phá trong công tác thực hiện văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý, bảo đảm công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành. Theo đó, cần tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, phổ biến văn bản, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số. Chú trọng công tác hướng dẫn áp dụng để bảo đảm sức sống của văn bản.
Thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Thường xuyên đánh giá hiệu quả của văn bản sau ban hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng cơ chế kịp thời nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ, tháo gỡ nhanh nhất những “điểm nghẽn” có nguyên nhân từ các quy định.
Đề cao công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm pháp luật trong công tác kiểm toán nhằm phát hiện và kiến nghị xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lạm quyền, thiếu trách nhiệm; đồng thời, góp phần khắc phục bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Nghiêm cấm việc lợi dụng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để trục lợi hoặc can thiệp, cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thực hiện cơ chế tài chính đặc thù cho hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật.
Nghị quyết nêu rõ, thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán, hỗ trợ đối với người làm công tác pháp chế theo quy định. Thực hiện cơ chế, chính sách kéo dài thời gian công tác, không giữ chức vụ cho một số cán bộ, công chức đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc về xây dựng pháp luật; thu hút, tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi vào KTNN theo quy định của pháp luật.
Tập trung xây dựng đội ngũ công chức làm công tác pháp chế có bản lĩnh chính trị, hiểu biết sâu về thể chế, am hiểu thực tiễn kiểm toán và có kỹ năng xây dựng chính sách, pháp luật. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng luật cho công chức, kiểm toán viên. Xây dựng chương trình, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý.
Năm là, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Ưu tiên nguồn lực xây dựng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng, phổ biến, giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, liên thông, dễ khai thác, dễ sử dụng, an toàn thông tin và bí mật nhà nước; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý.
Nghị quyết 171 -NQ/ĐU hướng đến 4 mục tiêu cụ thể:
Trước 31/12/2025: Hoàn thành rà soát toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành có liên quan đến hoạt động KTNN, các văn bản quy phạm pháp luật,văn bản quản lý do Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành và các hướng dẫn kiểm toán các lĩnh vực; từ đó sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới đảm bảo phù hợp với các quy định mới của Đảng, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Luật Ngân sách Nhà nước mới, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, các luật mới được ban hành.
Năm 2027: Xây dựng và trình Quốc hội ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung Luật KTNN, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối, yêu cầu nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đặt ra với KTNN trong tình hình mới.
Năm 2028: Xây dựng và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2045.
Từ năm 2028 đến năm 2030: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Tổng Kiểm toán nhà nước, văn bản quản lý liên quan đến tổ chức và hoạt động của KTNN sau khi Luật KTNN (mới hoặc sửa đổi, bổ sung) được Quốc hội thông qua và Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2045 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.