Nhớ người một Tết Trung thu

Tết Trung thu là một tổ chức sinh hoạt văn hóa của nhiều dân tộc Á Đông, trong đó có Việt Nam. Đến nay cũng chưa có tài liệu nào xác định xuất xứ Tết Trung thu, có chăng chỉ dựa vào một số truyền thuyết, nhưng rơi vào phỏng đoán. Nhưng tất cả đều hiểu rằng, trung thu (中秋) là từ Hán Việt, giữa mùa thu, đó là ngày trăng tròn đầu tiên sau tiết thu phân, tức ngày 15 tháng 8 âm lịch, có đêm trăng sáng và ánh trăng đẹp nhất trong năm.

Lồng đèn lớn được làm theo mô hình cây thanh long sáng lung linh trong đêm trung thu ở khu vực phía Đông tỉnh. Ảnh tư liệu minh họa

Lồng đèn lớn được làm theo mô hình cây thanh long sáng lung linh trong đêm trung thu ở khu vực phía Đông tỉnh. Ảnh tư liệu minh họa

Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ cho rằng, sinh hoạt Tết Trung thu có từ rất sớm, được khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, miêu tả hoạt động ăn mừng mùa màng bội thu. Theo văn bia chùa Đọi năm 1121 về nguồn gốc Tết Trung thu, từ đời nhà Lý, Tết Trung thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước, rước đèn…

Ý nghĩa Tết Trung thu tuy có những quan niệm và cách thể hiện có một số điểm khác nhau, nhưng đều thống nhất đó là ngày sinh hoạt mang tính văn hóa truyền thống, là ngày đoàn viên, là dịp để người thân trong nhà tụ họp, gặp gỡ nhau sau một mùa vụ, cùng ăn bánh trung thu, uống trà, ngắm trăng, vừa ăn mừng vụ mùa thắng lợi; là dịp con cháu trong gia đình bày tỏ lòng biết ơn, hiếu kính ông bà, cha mẹ; những gia đình khá giả họ sắm những mâm cổ tươm tất để ăn mừng; cũng là ngày đặc biệt cho các bạn nhỏ, vui chơi giải trí, tham gia các hoạt động duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

Năm nay, các địa phương chuẩn bị tổ chức đón Tết Trung thu trước sự tưng bùng hớn hở của các cháu thiếu nhi, gợi tôi cảm xúc vô cùng nhớ về bài thơ Trung thu của Bác Hồ sáng tác cách đây hơn 80 năm trong ngục tù Tưởng Giới Thạch. Phiên âm: “Trung thu thu nguyệt viên như kính,/ Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân./ Gia lý đoàn viên ngật thu tiết, /Bất vong ngục lý ngật sầu nhân./ Ngục trung nhân dã thưởng trung thu,/ Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu./ Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,/ Tâm tùy thu nguyệt cộng du du!” (Nhật ký trong tù). Văn Trự, Văn Phụng dịch thơ: “Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,/ Sáng khắp nhân gian bạc một màu;/ Sum họp nhà ai ăn tết đó,/ Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu./ Trung thu ta cũng tết trong tù,/ Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;/ Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,/ Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu”.

Bài thơ Trung thu là một trong những tác phẩm xúc động nhất của Bác Hồ, mang tầm vóc triết lý sâu sắc viết về đề tài trăng và Tết Trung thu trong văn học Việt Nam.

Mở đầu bài thơ là vẻ đẹp thiên nhiên và tấm lòng nhân ái bao la, đối lập giữa không gian tự do bên ngoài và sự chật hẹp tăm tối bên trong tù ngục của chủ thể trữ tình. Bên ngoài là bức tranh thiên nhiên khoáng đạt, “vành vạnh mảnh gương thu”, anh sáng tràn ngập đất trời, trải “khắp nhân gian bạc một màu”, chiếu rọi cho mọi nhà, mọi phận người ở khắp thế gian bình yên sum họp, không phân biệt giới hạn giàu nghèo. Đang ở nơi ngục tù tăm tối, mất hết tự do, nhưng Bác không hề bi lụy trước cảnh ngộ ê chề của bản thân mà luôn hướng về phía nhân gian bên ngoài với niềm đồng cảm sâu sắc: “Sum họp nhà ai ăn tết đó,/ Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu”. Câu hỏi tu từ thể hiện sự gắn kết giữa nhà thơ trong chốn lao lung với cuộc sống người đời ngoài kia. Ta như thấy được nhịp đập trái tim người tù cùng nhịp đập với trái tim Nhân dân.

Ở khổ thơ thứ hai, ta bắt gặp tâm hồn người tù cùng hòa nhịp với thiên nhiên, với cuộc sống đời thường, không có một áp lực nào ngăn cách. Tiếng thơ như một lời tuyên bố hiên ngang, biến không gian nhà tù thành một không gian rộn ràng rộng mở: “Trung thu ta cũng tết trong tù”. Chủ thể trữ tình, tức Bác Hồ, không tách mình ra khỏi cuộc vui của người dân bên ngoài. Hơn nữa, vượt lên trên thực tại, chủ động trải lòng hòa quyện với thiên nhiên: “Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu”. Tâm cảnh ấy là một thực trạng cảm xúc, thừa nhận có chút gợn buồn trăng gió, nhưng không phải nỗi buồn yếu đuối mà là sự biểu hiện cảm xúc tâm hồn của một trí thức, của một chiến sĩ cách mạng nặng lòng với non sông khi bước chân còn bị giam cầm trong tù ngục. Nhưng điều đó càng cho thấy sự tỏa sáng thái độ bản lĩnh của người làm chủ hoàn cảnh, thoát khỏi sự giam cầm thể xác đến với tự do của tinh thần, như có lần Bác đã nói: “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao” (Đề từ - NKTT). Ở đây cũng vậy: “Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt/ Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu”, khát vọng tự do và ý chí sắt đá thể hiện một tinh thần thép để vượt qua thực tại gian nan hướng về tương lai.

Bài thơ mở đầu với giọng điệu khoáng đạt, cái nhìn bao quát, sau chuyển dần thành lời đối thoại nội tâm sâu lắng, khẳng định vị thế chủ động của chủ thể trữ tình (“Trung thu ta cũng tết trong tù”). Bài thơ hội tụ phẩm chất cao đẹp giữa chất nghệ sĩ (nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên) và chất kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ, luôn vượt qua mọi thử thách gian lao.

Tôi nghĩ, thời gian qua, ở nước ta, nhiều nơi tổ chức hội rước đèn trung thu vô cùng hoành tráng để lại những ấn tượng đẹp đẽ cho tuổi thiếu thời của các em. Hôm nay cũng vậy, hàng triệu thiếu nhi Việt Nam tưng bừng đón Tết Trung thu, nhưng chắc rằng, không mấy cháu biết được Bác Hồ ngày xưa trên con đường cứu nước để đem lại độc lập hòa bình hôm nay cho con cháu yên vui sinh sống đã có những ngày Bác Hồ đón Tết Trung thu trong cảnh ngặt nghèo tràn đầy xúc động cảm thương như đã miêu tả ở bài thơ trên.

Võ Nguyên .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/nho-nguoi-mot-tet-trung-thu-465439.html