Những bí mật khoa học ẩn trong tranh cổ hàng trăm năm

Những bức tranh hàng trăm năm tuổi có thể lưu giữ manh mối về hành vi động vật, thực vật và hệ sinh thái mà khoa học hiện đại chỉ xác nhận rất lâu sau đó.

Các nhà khoa học vốn quen tìm kiếm dữ liệu trong hóa thạch, mẫu vật bảo tàng, DNA cổ hay những ghi chép lịch sử. Nhưng một nguồn tư liệu ít được chú ý hơn lại nằm ngay trên những bức tranh treo trong viện bảo tàng.

Nghệ sĩ từ nhiều thế kỷ trước thường quan sát thiên nhiên rất kỹ. Một số tác phẩm không chỉ thể hiện vẻ đẹp của cây cối và động vật mà còn ghi lại mối quan hệ sinh thái thực sự tồn tại ngoài tự nhiên.

Bức tranh của Maria Sibylla Merian từ những năm 1690, có thể cung cấp cho các nhà khoa học hiện đại những hiểu biết sâu sắc về hành vi và mối quan hệ của động vật.

Bức tranh của Maria Sibylla Merian từ những năm 1690, có thể cung cấp cho các nhà khoa học hiện đại những hiểu biết sâu sắc về hành vi và mối quan hệ của động vật.

Một trong những ví dụ ấn tượng nhất là bức Air của họa sĩ Flemish Jan Brueghel the Elder, hoàn thành năm 1611. Ở góc trên của tác phẩm, Brueghel vẽ một con dơi đang ngoạm một con chim nhỏ.

Nhưng con dơi trong tranh được xác định là dơi móng ngựa lớn (Nyctalus lasiopterus), một loài mà khoa học hiện đại cho rằng chủ yếu ăn côn trùng.

Mãi đến năm 2025, các nhà khoa học mới có thêm bằng chứng về việc loài dơi này săn chim. Điều đó có nghĩa Brueghel đã vẽ một hành vi mà giới khoa học phải mất khoảng 400 năm sau mới chính thức xác nhận.

Họa sĩ biết về dơi móng ngựa săn chim trước cả giới khoa học 400 năm.

Họa sĩ biết về dơi móng ngựa săn chim trước cả giới khoa học 400 năm.

Pedro Romero-Vidal, nhà sinh thái học tại Trạm Sinh học Doñana ở Seville, Tây Ban Nha và cộng sự đang rà soát hơn 1.500 tác phẩm có hình ảnh khỉ và vẹt để lần theo lịch sử phân bố, giao lưu và buôn bán động vật.

Một nhân vật khác còn đặc biệt hơn là Maria Sibylla Merian, nữ họa sĩ người Đức hoạt động vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Merian nổi tiếng với những tranh minh họa thực vật và côn trùng có độ chi tiết rất cao.

Bà thường vẽ côn trùng cùng chính loài cây mà chúng sử dụng, qua đó thể hiện mối quan hệ giữa sinh vật và cây chủ.

Với các nhà khoa học ngày nay, những bức tranh như vậy có thể trở thành một dạng hồ sơ sinh thái lịch sử. Chúng không thay thế dữ liệu sinh học hiện đại, nhưng có thể bổ sung những thông tin mà các phương pháp khác không còn lưu giữ.

Tuy nhiên, không phải mọi chi tiết trong tranh đều chính xác. Trong tác phẩm của Rachel Ruysch, một họa sĩ Hà Lan nổi tiếng với những bức tranh tĩnh vật hoa cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, nhà sinh vật học Charles Davis của Đại học Harvard phát hiện ra rằng, bà vẽ một hoa xác chết (carrion flower), nhóm thực vật bắt chước mùi và vẻ ngoài của xác động vật để thu hút ruồi đến thụ phấn.

Thế nhưng ngay cạnh bông hoa, Ruysch lại đặt một con bướm phượng. Trong tự nhiên, đây không phải đối tác thụ phấn phù hợp với loài hoa này.

Theo Charles Davis, có khả năng Ruysch từng nhìn thấy cây trong vườn thực vật nhưng chưa quan sát nó trong môi trường tự nhiên.

Điều này cho thấy tranh cổ vừa có thể là kho dữ liệu quý, vừa có thể chứa những chi tiết được nghệ sĩ tưởng tượng, sắp đặt hoặc sao chép từ nguồn khác.

Các sử gia nghệ thuật có thể so sánh nhiều tác phẩm của cùng một họa sĩ, tìm kiếm những mô-típ được lặp đi lặp lại, kiểm tra bản phác thảo ban đầu hoặc đối chiếu với những hình ảnh và tài liệu khác cùng thời.

Một chi tiết xuất hiện nhất quán trong nhiều bản phác thảo và tác phẩm khác nhau có thể đáng tin hơn một hình ảnh chỉ xuất hiện một lần.

Những thông tin nằm trong tranh đã tồn tại hàng trăm năm, nhưng chỉ khi các nhà sử học nghệ thuật và nhà khoa học cùng kết hợp, chúng mới có thể được giải mã dưới góc nhìn khoa học.

Đây cũng là lý do nghệ thuật lịch sử đang được xem như một nguồn dữ liệu mới cho sinh thái học.

Đừng nhầm giữa cổ sinh vật học với khảo cổ học.

Tuệ Minh

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/nhung-bi-mat-khoa-hoc-an-trong-tranh-co-hang-tram-nam-post1633104.html