Những giờ giảng giữa trùng khơi
Nhận nhiệm vụ lên Tàu Cảnh sát biển (CSB) 4038 (Hải đội 212, Hải đoàn 21, Vùng CSB 2) giảng dạy tiếng Anh cho cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ trên vùng biển Tây Nam, tôi từng nghĩ đó sẽ chỉ là một lớp học như bao lớp học khác. Nhưng sau những ngày lênh đênh giữa biển khơi, tôi nhận ra mình đang được sống trong một lớp học đặc biệt.
Giáo án viết từ nhịp sống con tàu
Anh em trên tàu đã hỏi tôi: “Thưa thầy, dạy trên tàu khác gì so với dạy trên đất liền?”. Tôi đã nghĩ rất lâu trước khi trả lời: “Khác nhiều lắm. Mọi bài giảng của tôi đều được viết lại từ chính nhịp sống của con tàu”.
Thật vậy. Ở đất liền, tôi đã quen với tiếng chuông báo hết tiết. Còn trên tàu, điều ngắt quãng bài giảng lại là tiếng chuông báo động. Có hôm, tôi vừa viết được vài dòng lên bảng thì chuông báo động vang lên. Các học viên gần như cùng lúc đứng dậy, báo cáo, khép sổ và nhanh chóng rời câu lạc bộ để nhận nhiệm vụ.

Trung tá Đoàn Xuân Phú giảng dạy trực quan cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tàu CSB 4038. Ảnh: TRẦN THANH LONG
Tôi đứng lặng trước bảng trắng. Lần đầu tiên trong nhiều năm đứng lớp, tôi hiểu rằng trên con tàu này sẽ không có khái niệm một tiết học trọn vẹn như ở đất liền. Ở đây, nhiệm vụ luôn là ưu tiên số một. Còn người thầy cần học cách bắt đầu lại bài giảng bất cứ lúc nào.
Cũng từ hôm ấy, tôi bắt đầu thay đổi cách giảng. Những bài hội thoại quen thuộc trong giáo trình dần nhường chỗ cho những tình huống mà chỉ vài giờ sau, anh em có thể gặp ngay ngoài boong tàu. Thay vì hỏi: “How are you today?”, chúng tôi luyện tập: “Vessel A 1234, this is the Vietnam Coast Guard. Stop for inspection (Tàu A 1234, đây là CSB Việt Nam. Yêu cầu dừng lại để kiểm tra)”; “Vessel A 4568, this is the Vietnam Coast Guard. We think you have illegal goods (Tàu A 4568, đây là CSB Việt Nam. Chúng tôi nghi ngờ tàu của các anh vận chuyển hàng hóa cấm)”; “Show your fishing license and other permits (Vui lòng cung cấp giấy phép khai thác và các giấy tờ liên quan)”; “Show us your safety gear and life-saving equipment (Vui lòng xuất trình trang thiết bị an toàn và phương tiện cứu sinh)”...
Tôi nhận ra ánh mắt các học viên chăm chú hơn hẳn. Ngoại ngữ không còn là môn học để ghi nhớ, mà trở thành công cụ phục vụ công việc hằng ngày. Có những hôm tôi không cần mở giáo trình, chỉ cần bước ra boong tàu, mọi thứ xung quanh đều có thể trở thành bài giảng.
Những học viên đặc biệt
Trong lớp có đồng chí lớn tuổi nhất là Trung tá Lê Viết Quang, Phó hải đội trưởng Quân sự, Hải đội 212. Điều khiến tôi khâm phục ở anh là tinh thần học tập.
Buổi nào anh cũng đến sớm. Khi mọi người còn đang chuẩn bị sách vở, anh đã lặng lẽ ôn tập lại những từ mới, những khẩu lệnh thường dùng. Có hôm, tôi bước vào câu lạc bộ thì thấy anh đang cẩn thận lau bảng. Anh cười hiền: “Báo cáo thầy giáo, bảng sạch thì viết chữ cũng đẹp hơn”. Một câu nói rất giản dị nhưng khiến tôi nhớ mãi. Là người nhiều tuổi nhất lớp, anh cũng là người chịu khó luyện phát âm nhất. Có từ phải đọc đi đọc lại 5-6 lần, đọc chưa chuẩn, lại đọc tiếp. Mỗi lần phát âm sai, anh chỉ cười: “Sai thì sửa. Mình còn học được là còn tiến bộ”. Chính sự cầu thị ấy lan tỏa đến cả lớp. Những học viên trẻ cũng mạnh dạn hơn. Không ai ngại phát âm sai. Không ai ngại hỏi. Họ sẵn sàng sửa cho nhau từng âm cuối, từng trọng âm. Không khí lớp học vì thế luôn cởi mở, gần gũi. Mỗi giờ học không còn là những bài giảng một chiều mà trở thành các cuộc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa người dạy và người học-những người đang trực tiếp làm nhiệm vụ trên biển.

Lớp học tiếng Anh giữa trùng khơi của Tàu CSB 4038. Ảnh: TRẦN THANH LONG
Những ngày sóng lớn, con tàu chồm lên rồi hạ xuống, bút lăn khỏi mặt bàn, giáo án khép lại vì gió lùa. Có đồng chí vừa giữ quyển vở, vừa cố ghi hết câu tiếng Anh. Một học viên cười vui: “Học tiếng Anh trên tàu phải học thêm cả... kỹ năng giữ thăng bằng”.
Có hôm kết thúc buổi học, tôi đi dọc boong tàu, thấy một số đồng chí cầm cuốn sổ tay đọc đi đọc lại những mẫu câu vừa học. Gió biển thổi mạnh làm tiếng nói lúc được lúc mất, nhưng các anh vẫn kiên trì luyện tập. Tôi hiểu rằng, động lực học tập của các anh không nằm ở điểm số hay chứng chỉ. Các anh học vì muốn hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ, muốn tự tin hơn khi giao tiếp với tàu nước ngoài, muốn mỗi lần tuần tra, kiểm soát hay tìm kiếm cứu nạn đều xử lý tình huống hiệu quả hơn.
Ngày kết thúc khóa học, tôi lật lại cuốn giáo án đã mang theo từ đất liền. Những trang giấy kín thêm rất nhiều dòng ghi chú mới. Không chỉ có từ vựng, ngữ pháp hay phương pháp giảng dạy, mà còn là những kinh nghiệm được đúc kết từ chính cuộc sống trên tàu: Bài học phải gắn với thực tiễn; giáo án phải linh hoạt theo nhiệm vụ; người học sẽ tiếp thu tốt nhất khi kiến thức giúp ích trực tiếp cho công việc của họ.
Tôi rời tàu và nhận ra bản thân cũng nhận được rất nhiều điều quý giá. Tôi học được sự bình tĩnh trước mọi tình huống, học được tinh thần kỷ luật và hơn hết là ý chí học tập không ngừng của cán bộ, chiến sĩ CSB.
Tàu CSB 4038 vẫn tiếp tục rẽ sóng thực hiện nhiệm vụ trên vùng biển Tây Nam của Tổ quốc. Tôi trở về giảng đường với cuốn giáo án đã dày thêm bởi những trải nghiệm. Mỗi khi đứng trên bục giảng, tôi lại nhớ đến lớp học nhỏ giữa biển khơi.











