Những nghệ nhân khèn bè cuối cùng ở vùng Lìa
Như cổ thụ giữa rừng già, số nghệ nhân biết chế tác, chơi thành thạo nhạc cụ khèn bè ở vùng Lìa, Nam Quảng Trị chỉ còn lác đác vài người. Những nghệ nhân nay tuổi đã cao, sức lực dần vơi cạn trong khi lớp trẻ ít mặn mà với nhạc cụ truyền thống của cha ông. Họ lo sợ một mai khèn bè sẽ biến mất nếu không sớm có biện pháp bảo tồn, truyền dạy.
Bền bỉ giữ nghề
Vùng Lìa là tên gọi chung cho 7 xã tiếp giáp nhau liền một dải ở phía Nam huyện Hướng Hóa cũ. Đây vừa là vùng đất màu mỡ, trù phú với bạt ngàn sắn, chuối cũng vừa là nơi còn lưu giữ nhiều loại nhạc cụ, lễ hội truyền thống của người dân tộc Vân Kiều, Pa Kô. Trong đó, khèn bè là loại nhạc cụ được người Pa Kô yêu thích, gắn bó sâu sắc và lâu đời trong đời sống văn hóa. Nhưng hiện tại, số nghệ nhân còn biết chế tác, trình diễn thành thạo khèn bè còn rất ít.
“Theo bố biết thì cả vùng Lìa này chỉ còn bố với ông Ngãi đây là còn biết chế tác và chơi khèn bè thành thạo. Còn lại thế hệ sau hầu như không còn ai mặn mà với loại nhạc cụ này”, nghệ nhân khèn bè Hồ Văn Chôn, 91 tuổi ở thôn Kỳ Tăng, xã Lìa, trầm ngâm nói. Trong khi đó ông Hồ Văn Ngãi (cùng thôn, được ông Chôn truyền nghề làm khèn bè) cũng đã ở tuổi 63.

Ông Hồ Văn Chôn (bên phải) và ông Hồ Văn Ngãi, thôn Kỳ Tăng, xã Lìa – những nghệ nhân khèn bè được xem là cuối cùng ở vùng Lìa - Ảnh: Đ.V
Từ thời trai trẻ, được cha ông truyền dạy, ông Chôn đã biết chế tác khèn bè. Vừa trò chuyện, ông vừa nhẹ nhàng lấy chiếc khèn bè ra từ chiếc túi thổ cẩm giới thiệu: “Khèn bè được ghép lại bằng 14 ống, trong đó có 12 ống có gắn lưỡi gà mỏng, 2 ống không gắn lưỡi mà chỉ để cho cân bằng chiếc khèn”.
Ống làm khèn là loại tre nhỏ, thẳng có tên Ala, được phơi khô; còn lưỡi gà làm bằng bạc, đồng. Sau khi chuẩn bị đầy đủ các vật liệu cần thiết, khèn bè sẽ được kết lại hai đầu bằng dây mây rừng vót nhỏ; ở giữa thân khèn sẽ được cố định lại bằng một báng gỗ mơớc (có thể là gỗ mít, xoan), xung quanh bịt trét lại bằng loại sáp ong màu đen.
“Khèn bè có nhiều kích cỡ, với chiều dài phổ biến từ 70-100cm. Bình quân mỗi chiếc khèn bè phải mất khoảng một tuần để chế tác hoàn chỉnh”, ông Hồ Văn Ngãi góp chuyện.
Ông Ngãi cho biết, thời gian trước đây khèn bè được chế tác chủ yếu để phục vụ biểu diễn trong các dịp như đám cưới, lễ hội mừng lúa mới, lễ tạ ơn các vị thần linh, kết nối giao duyên đôi lứa hay gặp gỡ giữa các dòng họ lâu ngày không gặp. Nhưng những năm gần đây, có một số khách hàng ở các địa phương trong, ngoài tỉnh biết đến và đặt nên các ông làm cho khách với giá khoảng 1,7 triệu đồng/chiếc. Đây là động lực giúp những nghệ nhân khèn bè giữ nghề, cũng vừa có thêm nguồn thu nhập trang trải cuộc sống.
Để khèn bè mãi ngân vang
Ông Chôn cho hay, làm khèn bè không quá khó nhưng đòi hỏi phải có sự tỉ mỉ, nhẫn nại và niềm đam mê âm nhạc. Như bản thân ông, biết làm khèn bè từ hồi còn trai trẻ nhưng đã bền bỉ gìn giữ nghề cho đến tận ngày nay.
“Thế hệ trẻ hiện nay ít mặn mà với các loại nhạc cụ truyền thống của cha ông, trong đó có khèn bè. Chỉ những dịp lễ hội trong thôn, bản thì tiếng khèn bè mới có dịp ngân vang. Bố và ông Ngãi cũng đau đáu và lo lắng một mai “khuất núi”, trong thôn, bản sẽ chẳng còn ai theo nghề chế tác và biểu diễn khèn bè”, ông Chôn mân mê cây khèn bè đã lên nước vàng óng, giọng trầm buồn.
Trong tiết trời se lạnh, hiện diện nơi mỗi nóc nhà ở bản làng Kỳ Tăng là một bếp lửa ấm, vương vít lên nền trời những vệt khói xám đục. Bên mái nhà sàn đã nhuốm màu thời gian, ông Chôn lấy hơi rồi ngân lên một điệu khèn bè réo rắt vui tươi thường biểu diễn trong lễ mừng lúa mới, mừng đám cưới, hội giao duyên. Hòa cùng điệu khèn ấy, ông Ngãi đánh nhịp theo với nhạc cụ xập xõa thật vui tai.
Tiếp sau đó, ông Chôn trình diễn cho chúng tôi nghe một khúc khèn bè thường phục vụ trong các lễ tang, lễ tạ ơn các vị thần linh với âm điệu trầm buồn, sâu lắng. Những thanh âm khèn bè đặc trưng, khi cao vút, khi trầm lắng như len lỏi qua những nóc nhà sàn, những dãy núi xanh thẳm. Giữa đại ngàn khoáng đạt, tiếng khèn bè ngân lên như một âm sắc riêng, như những lời tự tình, gửi gắm nỗi niềm tâm sự của những nghệ nhân ít ỏi còn lại của vùng Lìa.
Bà Hồ Thị Huệ, Trưởng Phòng Văn hóa-Xã hội, xã Lìa cho biết, thời gian qua phòng đã phối hợp với ngành văn hóa cấp trên tổ chức một số lớp truyền dạy chế tác, trình diễn các loại nhạc cụ, âm nhạc truyền thống của người Vân Kiều, Pa Kô, trong đó có khèn bè với sự tham gia của hàng trăm hạt nhân văn hóa, văn nghệ, cán bộ văn hóa, đoàn viên, thanh niên tại địa phương. Hoạt động này nhằm giúp bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của người dân tộc Vân Kiều, Pa Kô đến thế hệ mai sau. Để bảo tồn tốt hơn các giá trị văn hóa đặc sắc của người dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, chúng tôi sẽ đề xuất cấp trên quan tâm đầu tư xây dựng một nhà trưng bày, giới thiệu các loại nhạc cụ truyền thống, vật dụng sinh hoạt trong sản xuất, đời sống, trang phục…
Ông Hồ Văn Thưm, trưởng thôn Kỳ Tăng cho biết, ông Chôn và ông Ngãi được xem là số ít những nghệ nhân còn biết chế tác, biểu diễn thành thạo nhạc cụ khèn bè tại địa phương. Cùng tâm tư với những nghệ nhân này, ông Thưm cũng lo lắng và tiếc nuối nếu một mai tiếng khèn bè sẽ không còn vang lên trong mỗi dịp lễ hội tại cộng đồng.
“Thực tế là thời gian qua, có một số ít người trẻ trong thôn đã theo học chế tác, biểu diễn một số nhạc cụ như đàn Ta lư, sáo Khui, thanh la, chiêng, trống… Nhưng học chế tác và thổi khèn bè thì rất ít người theo. Có lẽ nhạc cụ này kén người làm vì khó, phức tạp hơn. Nhưng dù thế nào thì chúng tôi vẫn mong muốn các ngành chức năng, chính quyền địa phương tạo điều kiện mở các lớp tập huấn chế tác, biểu diễn loại nhạc cụ độc đáo này để không bị thất truyền. Về phía thôn, chúng tôi cũng sẽ cố gắng vận động, thuyết phục những người trẻ có niềm đam mê sẽ tiếp nối chế tác, bảo tồn, phát triển loại nhạc cụ truyền thống độc đáo này của cha ông”, ông Thưm gửi gắm.












