Nối dài dòng chảy văn hóa Việt - Hàn
Năm 2026 đánh dấu 800 năm mối nhân duyên Việt Nam - Hàn Quốc, tính từ năm 1226 khi hoàng tử Lý Long Tường vượt biển sang Cao Ly. Từ dấu mốc ấy, lịch sử giao lưu hai nước được nhìn nhận qua nhiều tầng lớp: Chứng tích khảo cổ, thư tịch hay các cuộc gặp gỡ giữa sứ thần... Đây là căn cứ mở ra những mối liên hệ văn hóa được hình thành, tiếp nhận và lưu dấu qua thời gian.
Chứng tích giao lưu qua các giai đoạn lịch sử
Hội thảo khoa học quốc tế “Giao lưu Lịch sử và Văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc: Tiếp biến di sản, ký ức và tầm nhìn đương đại” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH&NV), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) phối hợp với Viện Nghiên cứu Lịch sử Quốc gia Hàn Quốc tổ chức ngày 18-9, là dịp nhìn lại những dấu tích ấy, đồng thời mở rộng thảo luận tới các vấn đề di sản và sáng tạo văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: USSH
Một trong những vấn đề được quan tâm là câu chuyện về Lý Long Tường - nhân vật thường được nhắc đến trong nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thời trung đại. GS Heo In-uk (Đại học Quốc gia Jeonbuk, Hàn Quốc) cho biết, dựa trên Hoa Sơn Lý thị tộc phổ và Cao Ly sử, Lý Long Tường được cho là một hoàng thân nhà Lý di cư sang Cao Ly vào khoảng đầu thế kỷ XIII. Theo các tư liệu, ông đến khu vực Ung Tân, sau đó được vua Cao Tông ban vùng Hoa Sơn Lý làm thực ấp và phong tước Hoa Sơn quân.
Từ nhân vật này, nghiên cứu tiếp tục đặt vấn đề về quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Hoa Sơn Lý. GS Cho Jeong-gon, Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học thông tin thêm tình hình kinh tế của dòng họ tại Phụng Hóa vào nửa sau thế kỷ XVI, qua các văn bản phân chia tài sản. Các nghiên cứu cho thấy câu chuyện về Lý Long Tường không chỉ được tiếp cận từ góc độ nhân vật lịch sử, mà còn từ quá trình định cư, phát triển của một dòng họ có nguồn gốc Việt Nam trên đất Cao Ly.
Những mối liên hệ Việt Nam - Cao Ly còn được tìm thấy trong các nguồn thư tịch. Theo GS Heo In-uk, các ghi chép về An Nam đô hộ phủ, phong tục địa phương hay hoạt động của Cao Biền (theo “Bổ An Nam lục dị đồ ký” của Thôi Trí Viễn, học giả Tân La, sống và hoạt động tại nhà Đường vào thế kỷ IX) cho thấy nhận thức về An Nam được hình thành qua nhiều nguồn thông tin. Nghiên cứu cũng mở rộng đến các mạng lưới hàng hải và trao đổi đường biển thời Cao Ly, cho thấy giao lưu không chỉ diễn ra qua những tiếp xúc chính thức giữa các triều đình.
Những chứng tích cổ vật cũng bổ sung thêm một lớp tư liệu. TS Nguyễn Văn Anh, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN, cho biết, trong số hàng vạn hiện vật được phát hiện qua các cuộc khai quật tại khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, có 5 mảnh gốm sứ được xác định thuộc nhóm gốm men ngọc Goryeo.
Các hiện vật đều được phát hiện trong khu vực trục trung tâm Thăng Long thời Lý - Trần, phần lớn có niên đại thế kỷ XIII - XIV, là những sản phẩm gốm cao cấp với kỹ thuật trang trí đặc trưng của Goryeo, trong đó có kỹ thuật khảm Sanggam. Sự hiện diện của những hiện vật này tại khu vực trung tâm Hoàng thành đặt ra câu hỏi về con đường các sản phẩm gốm Goryeo đến Thăng Long.

Bát men ngọc, gốm Hàn Quốc tại Hoàng thành Thăng Long, thế kỷ XIII - XIV. Ảnh: USSH
Những dấu vết trên cho thấy, giao lưu Việt Nam - Hàn Quốc trong lịch sử có thể được nhận diện qua nhiều lớp chứng tích, trong những hoàn cảnh và không gian khác nhau.
Tiếp nối di sản trong đời sống sáng tạo đương đại
Nếu các tư liệu lịch sử cho thấy dấu vết giao lưu Việt Nam - Hàn Quốc được lưu giữ qua nhiều thế kỷ, những nghiên cứu đương đại lại chỉ ra cách các giá trị văn hóa của Việt Nam, Hàn Quốc được bảo tồn, tiếp diễn và phát huy trong đời sống hôm nay.
Sự tiếp biến văn hóa Việt - Hàn thể hiện rõ qua triết lý “di sản sống” (Living Heritage). Phân tích sự vận hành của những Văn miếu cấp tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, TS Đỗ Thị Hương Thảo, trường ĐH KHXH&NV ĐHQGHN đề cập những cách tiếp cận như “bảo tồn nguyên gốc”, “bảo tồn giá trị” và “sáng tạo truyền thống”. Theo nghiên cứu, các cách tiếp cận này có thể được kết hợp tùy đặc điểm từng di tích, vừa giữ gìn giá trị vốn có, vừa tạo điều kiện để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.
Nghiên cứu đối sánh Làng cổ Hahoe (Hàn Quốc) và Làng cổ Đường Lâm (Việt Nam) cũng nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc duy trì sức sống của di sản. Tính bền vững của di sản làng xã gắn với mô hình quản trị hợp tác, bảo đảm sinh kế, sự tham gia của người dân và duy trì tính “tiếp diễn văn hóa”. Cùng với đó là cơ chế chia sẻ lợi ích và những phương thức phát huy giá trị phù hợp.
Từ bảo tồn và phát huy giá trị, vấn đề được mở rộng sang khả năng chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành các hoạt động sáng tạo. Trong làn sóng chuyển đổi đô thị tại Việt Nam, Hải Phòng đang khẳng định quyết tâm gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO ở lĩnh vực âm nhạc. Phân tích bài toán này dưới góc nhìn công nghiệp văn hóa, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoài Phương (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) nhận định, bài học kinh nghiệm từ thành phố Daegu - trung tâm âm nhạc sáng tạo hàng đầu Hàn Quốc mang giá trị gợi mở đặc biệt.
Tại Daegu, hệ sinh thái âm nhạc được hình thành từ đào tạo, sáng tác, biểu diễn, sản xuất, phân phối, hoạt động cộng đồng, lễ hội và giao lưu quốc tế. Những kinh nghiệm này được các tác giả đặt trong mối liên hệ với bài toán của Hải Phòng, từ phát huy nguồn lực văn hóa, phát triển không gian biểu diễn, giáo dục âm nhạc đến mở rộng sự tham gia của cộng đồng. Ở đây, di sản không chỉ được nhìn như những giá trị cần bảo tồn, mà còn có thể trở thành một phần của nguồn lực văn hóa cho sáng tạo và phát triển đô thị.

Các chuyên gia Viện Nghiên cứu Lịch sử Quốc gia Hàn Quốc tại hội thảo khoa học quốc tế “Giao lưu Lịch sử và Văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc: Tiếp biến di sản, ký ức và tầm nhìn đương đại”. Ảnh: USSH
Song hành cùng công nghiệp sáng tạo, nguồn nhân lực và nền tảng tri thức cũng là một yếu tố quan trọng. TS. Hoàng Thị Hồng Nga (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) nhấn mạnh điểm tương đồng khi cả hai quốc gia đều “nội sinh hóa” mô hình đại học phương Tây trên nền tảng Nho giáo và truyền thống trọng học. Việc đẩy mạnh tự chủ đại học gắn với giữ vững bản sắc văn hóa giúp biến chuẩn mực toàn cầu thành năng lực nội tại, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ kinh tế số và trí tuệ nhân tạo.
Từ những chứng tích lịch sử đến các vấn đề của đời sống đương đại cho thấy quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc được bồi đắp qua nhiều lớp giao lưu. Trong bối cảnh hai nước đã trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện, những lớp giao lưu ấy góp phần làm rõ chiều sâu văn hóa của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc bên cạnh các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/noi-dai-dong-chay-van-hoa-viet-han-1757210.html

