Nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40%

Dự thảo sửa đổi Thông tư 22 hướng tới việc mở rộng dư địa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, trong đó các ngân hàng có hệ số an toàn vốn cao và quản trị thanh khoản tốt sẽ được ưu tiên áp dụng mức trần mới.

Ảnh minh họa: Mekong ASEAN

Ảnh minh họa: Mekong ASEAN

Tại Dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019 được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố ngày 17/6 về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan quản lý đề xuất nâng tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn từ 30% hiện hành lên 40%.

Theo quy định đang áp dụng, tỷ lệ này đã được NHNN điều chỉnh giảm theo lộ trình từ 40% xuống 37%, sau đó về 34% và chính thức áp dụng mức trần 30% kể từ ngày 1/10/2023. Với dự thảo mới, NHNN đề xuất đưa giới hạn này trở lại mức 40%, tương đương mức trần từng áp dụng trong giai đoạn 2020 - 2021.

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ cân đối giữa kỳ hạn huy động vốn và kỳ hạn sử dụng vốn của ngân hàng. Việc nâng giới hạn sẽ tạo thêm dư địa để các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho các khoản vay trung, dài hạn, từ đó hỗ trợ khả năng cung ứng tín dụng.

Tuy nhiên, việc nới trần tỷ lệ này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị thanh khoản. Trước đó, NHNN đã liên tục giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn nhằm hạn chế rủi ro chênh lệch kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng, khi nguồn tiền gửi chủ yếu vẫn tập trung ở các kỳ hạn ngắn trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế lại thiên về trung và dài hạn.

Ngân hàng có thêm dư địa vốn, nhưng áp lực quản trị cũng tăng

Chia sẻ với Mekong ASEAN, bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt - Chuyên gia cao cấp ngành Tài chính, CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), cho rằng với đề xuất mới, các ngân hàng có thể mở rộng tín dụng trung, dài hạn thêm 10% so với mức hiện tại. Nói cách khác, với cùng một quy mô nguồn vốn huy động ngắn hạn, tổ chức tín dụng sẽ được phép sử dụng tỷ lệ lớn hơn cho các khoản vay có kỳ hạn dài, qua đó cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu tín dụng đang ở mức cao.

Theo bà Nguyệt, mức độ hưởng lợi giữa các ngân hàng sẽ có sự khác biệt. Nhóm được hưởng lợi nhiều hơn là những ngân hàng hiện có tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức cao, bởi quy định mới giúp mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng mà chưa cần điều chỉnh mạnh cơ cấu nguồn vốn. Bên cạnh đó, các ngân hàng có thế mạnh trong tài trợ dự án, cho vay hạ tầng, năng lượng hoặc doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn cũng có thêm khả năng đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của khách hàng.

Ở góc độ nền kinh tế, những lĩnh vực cần nguồn vốn đầu tư dài hạn như sản xuất chế biến chế tạo, năng lượng, hạ tầng giao thông, logistics và nhà ở có thể được hưởng lợi khi khả năng tiếp cận vốn được cải thiện.

Tuy nhiên, bà Nguyệt cũng lưu ý việc nâng giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ làm gia tăng rủi ro mất cân đối kỳ hạn trong toàn hệ thống. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn, áp lực thanh khoản tiếp tục hiện hữu, khiến hệ thống ngân hàng nhạy cảm hơn trước các biến động về lãi suất và tỷ giá.

Ngoài ra, rủi ro dòng vốn tập trung vào những lĩnh vực có lợi suất cao và tài sản bảo đảm rõ ràng như bất động sản cũng cần được quan tâm, thay vì chảy vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tín dụng tập trung vào các ngành có tính chu kỳ cao có thể làm gia tăng nguy cơ nợ xấu khi chu kỳ kinh tế đảo chiều hoặc thị trường tài sản suy giảm, qua đó ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống tài chính.

Do đó, theo bà Nguyệt, vấn đề quan trọng đối với ngành ngân hàng là định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo ra tăng trưởng thực chất, đồng thời xây dựng cơ chế kiểm soát để vốn được sử dụng đúng mục đích. Cùng với đó, các ngân hàng cần tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn quản trị thanh khoản theo lộ trình Basel III, kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với cơ cấu nguồn vốn và khả năng thanh khoản của từng tổ chức tín dụng.

Nếu các biện pháp kiểm soát dòng vốn và quản trị thanh khoản được triển khai hiệu quả, việc nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn có thể tạo thêm dư địa tín dụng cho nền kinh tế mà vẫn hạn chế các rủi ro đối với an toàn hệ thống.

Trong khi đó, TS. Nguyễn Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP HCM, nhà sáng lập và điều hành Trường Quản trị & Lãnh đạo SSB cho rằng, việc điều chỉnh các tỷ lệ an toàn cần được đặt trong tổng thể quá trình nâng cao năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng và phát triển các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế.

Theo ông Linh, việc tạo thêm dư địa cho các tổ chức tín dụng trong sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn có thể hỗ trợ khả năng cung ứng vốn trong bối cảnh nhu cầu đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh tăng lên.

Những ngân hàng có hệ số an toàn vốn cao, chất lượng tài sản tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp, khả năng quản trị thanh khoản hiệu quả và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn Basel có thể được xem xét áp dụng tỷ lệ cao hơn. Ngược lại, các tổ chức tín dụng còn hạn chế về năng lực tài chính cần có lộ trình phù hợp hơn.

Tuy nhiên, ông Linh cũng cho rằng, tín dụng ngân hàng không nên trở thành nguồn cung vốn duy nhất, đặc biệt đối với các nhu cầu vốn dài hạn.

Do đó, cùng với việc củng cố năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng, cần tiếp tục phát triển đồng bộ thị trường vốn, bao gồm thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường trái phiếu Chính phủ và thị trường trái phiếu chính quyền địa phương.

TS. Nguyễn Đình Linh nhận định, việc thúc đẩy sự phát triển của các quỹ đầu tư dài hạn, quỹ hưu trí và các định chế tài chính phi ngân hàng sẽ giúp hình thành các kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế.

Khi các kênh huy động vốn này phát triển cân bằng, hệ thống ngân hàng sẽ giảm bớt áp lực phải đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn, từ đó nâng cao tính an toàn và ổn định của thị trường tài chính.

Theo ông Linh, đề xuất sửa đổi Thông tư 22 phản ánh xu hướng điều hành linh hoạt hơn của NHNN trong việc cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và kiểm soát rủi ro hệ thống. Việc triển khai đồng bộ với phát triển thị trường vốn và nâng cao khả năng hấp thụ vốn sẽ là yếu tố quan trọng để chính sách phát huy hiệu quả trong giai đoạn tới.

Thu Trang

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/noi-ty-le-von-ngan-han-cho-vay-trung-dai-han-len-40-56359.html