Nông dân miền Tây tìm cách giữ sinh kế trước sức ép hạn mặn

Từng phải bỏ hàng trăm triệu đồng mua nước ngọt, chở từng chuyến nước về cứu vườn sầu riêng giữa mùa hạn mặn, người nông dân miền Tây hiểu thế nào là nỗi lo khi nguồn nước cạn dần, độ mặn lấn sâu. Sau những mùa khô khắc nghiệt, câu chuyện giữ nước, giữ vườn cũng là câu chuyện giữ sinh kế. Từ thực tế sản xuất, nhiều nông dân đang tìm cách thay đổi mùa vụ, điều chỉnh phương thức canh tác để giảm thiệt hại, thích ứng với những biến động ngày càng khó lường của thời tiết.

 Các đại biểu tham dự ngày làm việc thứ hai của hội thảo “Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long”, diễn ra tại TP Cần Thơ, tiếp tục trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất giải pháp thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn trong sản xuất nông nghiệp.

Các đại biểu tham dự ngày làm việc thứ hai của hội thảo “Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long”, diễn ra tại TP Cần Thơ, tiếp tục trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất giải pháp thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn trong sản xuất nông nghiệp.

Bỏ tiền mua nước ngọt để giữ vườn sầu riêng

Mùa khô năm 2020, xâm nhập mặn kéo dài, có thời điểm độ mặn tại khu vực Ngũ Hiệp lên khoảng 5‰, kéo dài gần 4 tháng. Nguồn nước ngọt trong các tuyến kênh, mương nội đồng không còn bảo đảm phục vụ tưới tiêu, khiến nhiều nhà vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đứng trước nguy cơ thiệt hại. Với người trồng sầu riêng, thiếu nước ngọt trong thời gian dài có thể khiến đất khô nứt, phát sinh phèn, bộ rễ bị ảnh hưởng, cây suy kiệt và chết dần.

Ông Dương Văn Đây, nông dân có hơn 30 năm gắn bó với cây sầu riêng ở xã Ngũ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp, hiện có 2,7 ha vườn cây. Nhớ lại mùa khô năm 2020, ông cho biết thời điểm đó gia đình có khoảng 2 ha sầu riêng đang sản xuất. Trước tình trạng nguồn nước bị nhiễm mặn, ông xác định phải tìm cách giữ nước dưới đáy mương để bảo vệ bộ rễ và sức sống của cây.

Gia đình ông đã bỏ kinh phí mua khoảng 4.000 m³ nước ngọt, đồng thời được Nhà nước hỗ trợ thêm 500 m³. Toàn bộ lượng nước này được bơm xuống đáy mương để duy trì nguồn nước cho vườn. Cứ khoảng một đến hai tuần, ông bơm bổ sung một lần, kết hợp tưới nước cho cây từ 3–4 ngày/lần và bổ sung phân bón lá trong quá trình chăm sóc.

Nhờ chủ động giữ nước và chăm sóc kịp thời, vườn sầu riêng của gia đình vẫn phát triển bình thường sau đợt hạn mặn, lá xanh tốt. Đến năm 2021, ông tiếp tục xử lý cho sầu riêng ra hoa mùa nghịch và đạt kết quả tốt.

Từ trải nghiệm thực tế, ông Đây cho rằng khi hạn mặn xảy ra, có nước ngọt để tưới là rất quan trọng, nhưng điều quan trọng không kém là phải biết cách giữ nước, sử dụng nước hợp lý để bảo vệ bộ rễ và duy trì sức sống của cây.

 Ông Dương Văn Đây, nông dân có hơn 30 năm gắn bó với cây sầu riêng ở xã Ngũ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp, kể lại kinh nghiệm xoay xở nguồn nước ngọt để bảo vệ vườn cây trong mùa hạn mặn.

Ông Dương Văn Đây, nông dân có hơn 30 năm gắn bó với cây sầu riêng ở xã Ngũ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp, kể lại kinh nghiệm xoay xở nguồn nước ngọt để bảo vệ vườn cây trong mùa hạn mặn.

Câu chuyện của ông Đây cho thấy nguồn nước có ý nghĩa đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp ở những vùng thường xuyên chịu tác động của hạn hán và xâm nhập mặn. Khi nước ngọt khan hiếm, người nông dân không chỉ đối mặt với nguy cơ mất mùa mà còn phải gánh thêm chi phí bơm tưới, mua nước và phục hồi vườn cây sau hạn mặn.

Những khó khăn từ thực tế sản xuất này cũng được chia sẻ, thảo luận tại hội thảo “Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại ĐBSCL”, diễn ra trong hai ngày 2 và 3/11 tại TP Cần Thơ. Hội thảo do Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), Santa Foundation, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, Cơ quan Hợp tác Doanh nghiệp Hà Lan và Đối tác Thực phẩm Hà Lan phối hợp tổ chức.

 Các chuyên gia và đại biểu quốc tế tham dự ngày làm việc thứ hai của hội thảo tại TP Cần Thơ, trao đổi kinh nghiệm và thảo luận các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với hạn hán và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Các chuyên gia và đại biểu quốc tế tham dự ngày làm việc thứ hai của hội thảo tại TP Cần Thơ, trao đổi kinh nghiệm và thảo luận các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với hạn hán và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Tham dự hội thảo có đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường 6 địa phương gồm Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau, Đồng Tháp và Tây Ninh; cùng đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, hệ thống Hội Nông dân, các chuyên gia, nhà khoa học và đối tác Hà Lan.

Những chia sẻ từ thực tế sản xuất cho thấy mỗi địa phương có điều kiện canh tác và mức độ chịu tác động khác nhau. Tuy vậy, bài toán chung vẫn là chủ động nguồn nước, tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện thời tiết và hạn chế thiệt hại cho người dân.

 Bà Võ Thị Tươi, ngụ ấp Phước Tân, xã Vĩnh Phước, tỉnh Cà Mau, phản ánh những tác động của hạn hán, xâm nhập mặn đến hoạt động trồng trọt và nuôi thủy sản tại địa phương.

Bà Võ Thị Tươi, ngụ ấp Phước Tân, xã Vĩnh Phước, tỉnh Cà Mau, phản ánh những tác động của hạn hán, xâm nhập mặn đến hoạt động trồng trọt và nuôi thủy sản tại địa phương.

Mỗi vùng sản xuất một cách xoay xở

Ở Cà Mau, bà Võ Thị Tươi, ngụ ấp Phước Tân, xã Vĩnh Phước, cho biết hạn hán và xâm nhập mặn tác động đến nhiều loại hình sản xuất, từ trồng lúa, rau màu đến nuôi thủy sản. Trước những biến động của nguồn nước, một số hộ đã chủ động thay đổi mùa vụ, chuyển từ sản xuất 3 vụ lúa sang 2 vụ lúa kết hợp 1 vụ rau màu; một số nơi áp dụng mô hình luân canh lúa – tôm.

Trong quá trình sản xuất, người dân phải thường xuyên kiểm tra độ mặn, gia cố bờ bao, làm cống tạm và tìm cách trữ nước phục vụ tưới tiêu. Tuy nhiên, việc chuyển đổi không phải lúc nào cũng thuận lợi do hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ, nguồn vốn của người dân còn hạn chế và đầu ra nông sản chưa ổn định. Vì vậy, nhu cầu nạo vét kênh mương, tăng cường cảnh báo mặn, hỗ trợ vốn và kết nối thị trường tiếp tục được đặt ra.

 Ông Dương Thanh Long, đại diện nông dân trồng lúa tỉnh An Giang, nêu những trở ngại trong sản xuất khi thời tiết thất thường, nguồn nước thiếu hụt và nguy cơ xâm nhập mặn gia tăng.

Ông Dương Thanh Long, đại diện nông dân trồng lúa tỉnh An Giang, nêu những trở ngại trong sản xuất khi thời tiết thất thường, nguồn nước thiếu hụt và nguy cơ xâm nhập mặn gia tăng.

Với sản xuất lúa, ông Lê Thanh Long, đại diện nông dân trồng lúa tỉnh An Giang, cho biết thời tiết diễn biến thất thường, nắng nóng kéo dài, mưa không theo quy luật khiến nguồn nước phục vụ xuống giống, chăm sóc và thu hoạch gặp nhiều khó khăn.

Tình trạng khô hạn, thiếu nước làm đất khô, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lúa, đồng thời làm tăng chi phí bơm tưới và có thể khiến năng suất giảm. Ở những vùng bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn, thiếu nguồn nước ngọt khiến người dân khó chủ động sản xuất; việc sử dụng nguồn nước có độ mặn không phù hợp còn tác động đến năng suất và chất lượng lúa.

Từ thực tế này, ông Long cho rằng nông dân cần theo dõi thông tin thời tiết, nguồn nước và cảnh báo độ mặn để chủ động điều chỉnh lịch xuống giống. Việc sử dụng nước cần phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, không lấy nước có độ mặn vượt ngưỡng phù hợp; đồng thời lựa chọn giống thích nghi với điều kiện địa phương, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp, hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật không cần thiết.

Ông cũng nhấn mạnh vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã trong việc chia sẻ thông tin, thống nhất lịch thời vụ và phối hợp điều tiết nước. Đây là cách giúp nông dân giảm chi phí, hạn chế rủi ro khi thời tiết và nguồn nước biến động.

Bên cạnh những giải pháp trong canh tác, đại diện nông dân An Giang cũng chỉ ra khó khăn về chi phí sản xuất, khả năng tiếp cận thông tin dự báo, kỹ thuật và nguồn vốn. Hệ thống thủy lợi, công trình trữ nước cần tiếp tục được nâng cấp; thị trường tiêu thụ lúa cần ổn định hơn để người dân yên tâm sản xuất.

Từ đó, ông Long đề xuất tăng cường cảnh báo sớm về thời tiết, hạn hán và xâm nhập mặn; đầu tư, nâng cấp hệ thống thủy lợi, nạo vét kênh mương, xây dựng công trình trữ nước và điều tiết nước. Cùng với đó là đẩy mạnh tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ giống phù hợp, mô hình tưới tiết kiệm nước, giảm chi phí; tạo điều kiện tiếp cận vốn, bảo hiểm nông nghiệp và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp.

 Ông Phạm Đức Tài, Giám đốc HTX Thành Trí, tỉnh Vĩnh Long, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện công trình thủy lợi, chủ động trữ nước ngọt và hỗ trợ người dân phục hồi sản xuất sau hạn mặn.

Ông Phạm Đức Tài, Giám đốc HTX Thành Trí, tỉnh Vĩnh Long, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện công trình thủy lợi, chủ động trữ nước ngọt và hỗ trợ người dân phục hồi sản xuất sau hạn mặn.

Tại Vĩnh Long, ông Phạm Đức Tài, Giám đốc HTX Thành Trí, xã Tân An, cho biết xâm nhập mặn kéo dài gây thiệt hại nặng cho sản xuất nông nghiệp, từ lúa, rau màu đến cây giống, hoa kiểng, cây ăn trái và dừa. Không chỉ cây trồng bị suy kiệt, giảm năng suất, nhiều hộ còn thiếu nước ngọt sinh hoạt, phải mua nước với chi phí cao.

Trong khi đó, độ mặn trên các sông Tiền, Hàm Luông, Cổ Chiên có thời điểm xâm nhập sâu 50–70 km, khiến nhiều nhà máy nước bị nhiễm mặn. Việc vận chuyển hoặc xử lý nước bằng hệ thống RO chỉ là giải pháp tình thế.

Theo ông Tài, dù người dân đã chủ động đào ao, đắp bờ, sử dụng túi và bồn chứa nước ngọt, nhưng vẫn gặp khó khăn khi hạn mặn kéo dài, công trình thủy lợi chậm tiến độ. Ông kiến nghị sớm hoàn thiện hệ thống ngăn mặn, trữ ngọt, vận hành cống hợp lý, tăng cường dự báo và hỗ trợ người dân trữ nước, phục hồi sản xuất; đồng thời xem xét giảm giá nước sinh hoạt, khoanh nợ, giãn nợ cho các hộ bị thiệt hại.

 Ông Nguyễn Thành Trung, nông dân xã Tân Long, tỉnh Tây Ninh, giới thiệu cách làm của gia đình trong việc trữ nước bằng ao lót bạt, áp dụng tưới nhỏ giọt và sử dụng phân hữu cơ để chăm sóc cây trồng.

Ông Nguyễn Thành Trung, nông dân xã Tân Long, tỉnh Tây Ninh, giới thiệu cách làm của gia đình trong việc trữ nước bằng ao lót bạt, áp dụng tưới nhỏ giọt và sử dụng phân hữu cơ để chăm sóc cây trồng.

Tại Tây Ninh, ông Nguyễn Thành Trung, nông dân xã Tân Long, cho biết gia đình đang sản xuất 7 ha chanh không hạt, 2 ha thanh nhãn, 5 ha khóm và 10 ha lúa. Khó khăn không chỉ nằm ở tình trạng thiếu nước mà còn ở việc có nước nhưng nguồn nước bị nhiễm mặn, không thể sử dụng để tưới cho cây trồng.

Khi cây tiếp xúc với nguồn nước có độ mặn không phù hợp, bộ rễ bị ảnh hưởng, lá cháy, rụng, năng suất giảm, thậm chí cây có thể chết. Sau mỗi đợt hạn mặn, người trồng cây còn phải tốn thêm chi phí để chăm sóc, phục hồi vườn.

Để hạn chế thiệt hại, gia đình ông Trung chủ động lót bạt các ao, mương trữ nước, áp dụng tưới nhỏ giọt, sử dụng phân hữu cơ và cắt cỏ phủ gốc để giữ ẩm, nhưng không để cỏ cạnh tranh nguồn nước với cây trồng. Theo ông, người sản xuất vẫn cần thêm nguồn vốn đầu tư, thông tin dự báo độ mặn và hướng dẫn kỹ thuật phục hồi cây sau khi bị ảnh hưởng.

Từ những chia sẻ của nông dân ở Đồng Tháp, Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long và Tây Ninh có thể thấy, giải pháp thích ứng phải xuất phát từ đặc điểm từng vùng sản xuất. Người trồng lúa quan tâm đến lịch thời vụ, giống và điều tiết nước; người trồng cây ăn trái chú trọng trữ nước, tưới tiết kiệm và bảo vệ bộ rễ. Dù lựa chọn cách làm khác nhau, người dân đều cần thông tin dự báo kịp thời, hỗ trợ kỹ thuật và nguồn lực để chủ động ứng phó.

 Ông Trương Văn Hùng, Giám đốc HTX Nông nghiệp Hưng Lợi, xã Đại Ngãi, TP Cần Thơ, thông tin về hiệu quả mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp với chi phí đầu vào giảm và lợi nhuận được cải thiện.

Ông Trương Văn Hùng, Giám đốc HTX Nông nghiệp Hưng Lợi, xã Đại Ngãi, TP Cần Thơ, thông tin về hiệu quả mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp với chi phí đầu vào giảm và lợi nhuận được cải thiện.

Giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng chống chịu

Bên cạnh việc chủ động nguồn nước, giảm chi phí đầu vào và tổ chức lại quy trình canh tác cũng là hướng đi được quan tâm tại ĐBSCL.

Tại Hợp tác xã Nông nghiệp Hưng Lợi, xã Đại Ngãi, TP Cần Thơ, mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp được triển khai trên diện tích 50 ha trong giai đoạn 2024–2026, với 6 vụ sản xuất. Kết quả cho thấy năng suất bình quân đạt 6,5 tấn/ha, giá bán 10.800 đồng/kg, doanh thu khoảng 70,2 triệu đồng/ha, lợi nhuận gần 49 triệu đồng/ha, cao hơn khoảng 4–5 triệu đồng/ha so với sản xuất ngoài mô hình.

Đáng chú ý, chi phí đầu vào giảm 20,1%. Trong đó, lượng giống sử dụng giảm 40%, phân bón giảm 34,2%, thuốc bảo vệ thực vật giảm 44,8% và chi phí tưới tiêu giảm 13%. Lượng phát thải quy đổi cũng giảm 3.996 kg CO₂/ha/vụ, thấp hơn 29,6% so với ruộng đối chứng.

Ông Trương Văn Hùng, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Hưng Lợi, cho biết mô hình áp dụng các quy trình “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, sản xuất lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, kết hợp cơ giới hóa trong các khâu sản xuất. Qua đó, hợp tác xã từng bước giảm lượng vật tư đầu vào, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Tuy nhiên, sản xuất vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt vào đầu vụ và xâm nhập mặn trong mùa khô. Vì vậy, việc theo dõi độ mặn, điều tiết nguồn nước theo từng khu vực và áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp vẫn là những yêu cầu quan trọng.

Hợp tác xã mong muốn mở rộng diện tích mô hình từ 50 ha lên 603 ha, nhưng để thực hiện cần có thêm nguồn lực đầu tư, trang thiết bị và hỗ trợ kỹ thuật. Đây cũng là điều kiện để các mô hình sản xuất tiết kiệm chi phí, giảm phát thải có thể được nhân rộng, thay vì chỉ dừng lại ở phạm vi thí điểm.

Nhìn từ các địa phương tham gia hội thảo, vấn đề thích ứng hạn mặn không chỉ là câu chuyện tìm nguồn nước tưới trong mùa khô. Đó còn là việc lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo đảm đầu ra cho nông sản. Với những vùng trồng lúa, việc điều chỉnh lịch thời vụ, giống và quy trình canh tác có ý nghĩa quan trọng; còn ở vùng cây ăn trái, khả năng trữ nước, tưới tiết kiệm và phục hồi vườn cây sau hạn mặn là những yếu tố quyết định.

 Ông Peter Prins, CEO SALTA (Santa Foundation), tặng hoa tulip cho các đại biểu nông dân sau phần trình bày, chia sẻ kinh nghiệm tại hội thảo về giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Peter Prins, CEO SALTA (Santa Foundation), tặng hoa tulip cho các đại biểu nông dân sau phần trình bày, chia sẻ kinh nghiệm tại hội thảo về giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Giữ nguồn nước để bảo vệ sinh kế

Từ câu chuyện ông Đây phải mua hàng nghìn mét khối nước ngọt để cứu vườn sầu riêng đến những mô hình sản xuất lúa giảm chi phí, có thể thấy nông dân đang phải chủ động thay đổi để thích ứng với điều kiện sản xuất ngày càng khó khăn.

Tuy nhiên, khả năng ứng phó của mỗi hộ còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, hệ thống thủy lợi và mức độ tiếp cận thông tin, kỹ thuật. Không phải hộ dân nào cũng đủ nguồn lực để đầu tư ao trữ nước, hệ thống tưới tiết kiệm hay phục hồi vườn cây sau thiệt hại.

Vì vậy, bên cạnh nỗ lực thay đổi phương thức sản xuất của người dân, việc nâng cấp công trình thủy lợi, tăng cường dự báo hạn hán và xâm nhập mặn, hỗ trợ vốn, chuyển giao kỹ thuật và kết nối thị trường có ý nghĩa thiết thực. Các giải pháp cần phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng loại cây trồng, vật nuôi và điều kiện sinh kế của người dân.

Với nông dân ĐBSCL, giữ được nguồn nước không chỉ là bảo vệ mùa vụ trước mắt mà còn là giữ vườn cây, ruộng lúa và nguồn thu nhập lâu dài. Qua những mùa hạn mặn, người dân ngày càng nhận thức rõ rằng không thể tiếp tục sản xuất theo tập quán cũ khi điều kiện thời tiết và nguồn nước đã thay đổi. Từ việc trữ nước, chuyển đổi mùa vụ đến áp dụng kỹ thuật canh tác tiết kiệm chi phí, mỗi thay đổi đều xuất phát từ nhu cầu bảo vệ sản xuất và duy trì sinh kế./.

Một số hình ảnh ghi nhận tại hội thảo:

Nguyễn Sơn

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/nong-dan-mien-tay-tim-cach-giu-sinh-ke-truoc-suc-ep-han-man-18301.html