Nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm nguồn cung cuối năm

Trong tháng 10/2026, nông dân ở các địa phương tập trung thu hoạch lúa mùa, gieo cấy lúa thu đông và trồng cây vụ đông. Chăn nuôi lợn, gia cầm tăng trưởng khá; sản lượng gỗ khai thác và thủy sản nuôi trồng đều tăng, góp phần bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu những tháng cuối năm...

Sản lượng cá tra thu hoạch 10 tháng ước đạt 1.540,4 nghìn tấn. Ảnh: VASEP.

Sản lượng cá tra thu hoạch 10 tháng ước đạt 1.540,4 nghìn tấn. Ảnh: VASEP.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), vụ mùa năm 2026, cả nước gieo cấy sơ bộ 1.369,9 nghìn ha lúa, giảm 40,4 nghìn ha so với năm trước. Trong đó, miền Bắc đạt 945,3 nghìn ha, giảm 32,7 nghìn ha; miền Nam đạt 424,6 nghìn ha, giảm 7,7 nghìn ha.

THỜI TIẾT THUẬN LỢI, THU HOẠCH LÚA MÙA NHANH

Diện tích lúa mùa giảm chủ yếu do các địa phương chuyển đổi một phần đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác, nuôi trồng thủy sản hoặc mục đích phi nông nghiệp. Một số diện tích không thể gieo cấy do điều kiện sản xuất khó khăn, như vùng trũng thường xuyên ngập úng tại Thanh Hóa, vùng núi thiếu nước ở Nghệ An và khu vực chịu ảnh hưởng triều cường tại Cà Mau.

Tính đến ngày 20/10/2026, cả nước thu hoạch 955,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 69,7% diện tích gieo cấy và tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, miền Bắc thu hoạch 673,2 nghìn ha, đạt 71,2% diện tích gieo cấy, tăng 5,6%; miền Nam thu hoạch 282 nghìn ha, đạt 66,4%, giảm 3%. Tiến độ thu hoạch tại miền Bắc nhanh hơn cùng kỳ nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi.

Đối với lúa thu đông, đến ngày 20/10, các địa phương xuống giống được 696,2 nghìn ha, bằng 90,9% cùng kỳ năm trước. Một số địa phương chủ động giãn tiến độ xuống giống để ứng phó với mưa bão và triều cường. An Giang gieo cấy 233 nghìn ha, bằng 94% cùng kỳ; Tây Ninh 130,4 nghìn ha, bằng 92,6%; Đồng Tháp 120,1 nghìn ha, bằng 87,2%; Vĩnh Long 83,6 nghìn ha, bằng 78,1%.

Tăng trưởng diện tích lúa và một số cây rau màu. Nguồn: Cục  Thống kê.

Tăng trưởng diện tích lúa và một số cây rau màu. Nguồn: Cục  Thống kê.

Trong tháng 10, chăn nuôi trâu tiếp tục xu hướng giảm do diện tích chăn thả tự nhiên thu hẹp, chi phí đầu tư lớn, thời gian nuôi dài và hiệu quả kinh tế thấp. Đàn bò giảm nhẹ do thiếu nguồn thức ăn thô xanh, chi phí đầu vào cao và chăn nuôi nhỏ lẻ kém hiệu quả.

Chăn nuôi lợn đạt kết quả tích cực nhờ nhiều địa phương đẩy mạnh tái đàn sau ảnh hưởng của dịch bệnh năm trước, chuẩn bị nguồn cung cho nhu cầu tiêu dùng cuối năm. Các doanh nghiệp và trang trại duy trì, mở rộng quy mô nhờ chủ động con giống, thức ăn, áp dụng quy trình chăn nuôi khép kín và an toàn sinh học.

Một số địa phương có đàn lợn tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, như Cao Bằng tăng 35%, Quảng Ngãi tăng 15,5%, Gia Lai tăng 12%, Thanh Hóa tăng 11,8%, Phú Thọ tăng 8,3% và Tuyên Quang tăng 7,8%. Tuy nhiên, giá lợn hơi giảm 2,5% so với tháng trước, trong khi giá thức ăn chăn nuôi và các chi phí đầu vào vẫn cao, khiến lợi nhuận của người chăn nuôi bị thu hẹp.

Chăn nuôi gia cầm tiếp tục tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt, trứng ổn định. Người chăn nuôi chủ động mở rộng quy mô, tăng đàn phục vụ thị trường cuối năm. Đàn gia cầm tại Cần Thơ tăng 10,8%; Tuyên Quang tăng 10,6%; Lâm Đồng tăng 9,1%; Nghệ An tăng 7,1%; Thanh Hóa và An Giang cùng tăng 6,5%.

SẢN LƯỢNG GỖ VÀ THUỶ SẢN TĂNG

Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 10/2026 ghi nhận mức tăng khá về sản lượng gỗ khai thác. Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 34 nghìn ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 4,8 triệu cây, tăng 0,4%.

Đáng chú ý, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.727,8 nghìn m3, tăng 10,2%. Kết quả này chủ yếu nhờ nhu cầu nguyên liệu của các cơ sở chế biến lâm sản tăng cao, trong khi giá gỗ keo nguyên liệu duy trì ổn định. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh như Tuyên Quang tăng 129,2%; Lạng Sơn tăng 15,3%; Nghệ An tăng 12,5% và Quảng Trị tăng 11,7%.

Tính chung 10 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 249,8 nghìn ha, giảm 2% so với cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 76,1 triệu cây, tăng 1,5%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 21.664,7 nghìn m³, tăng 6,1%.

Tuy nhiên, tình trạng rừng bị thiệt hại vẫn đáng chú ý. Trong 10 tháng năm 2026, diện tích rừng bị thiệt hại đạt 1.250,8 ha, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích rừng bị chặt, phá là 438,3 ha, giảm 39,6%, nhưng diện tích rừng bị cháy lên tới 812,5 ha, gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản trong 10 tháng năm 2026. Nguồn: Cục Thống kê.

Sản lượng thuỷ sản trong 10 tháng năm 2026. Nguồn: Cục Thống kê.

Trong tháng 10/2026, sản lượng thủy sản ước đạt 959,6 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá đạt 645,6 nghìn tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 172,8 nghìn tấn, tăng 6,1%; thủy sản khác đạt 141,2 nghìn tấn, tăng 4,6%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng đạt 655,1 nghìn tấn, tăng 6%. Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 5.515,7 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá đạt 3.471,2 nghìn tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 1.441,2 nghìn tấn, tăng 7,5%; thủy sản khác đạt 603,3 nghìn tấn, tăng 10,2%.

Sản lượng cá tra thu hoạch tháng 10 ước đạt 108,8 nghìn tấn, tăng 5,1%; lũy kế 10 tháng đạt 1.540,4 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước.  Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá cá tra nguyên liệu duy trì ở mức 30.000-37.000 đồng/kg, tăng khoảng 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2025.

Sản lượng tôm cũng tăng nhờ người nuôi ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả quản lý ao nuôi, kiểm soát dịch bệnh và tiết kiệm chi phí. Trong tháng 10, sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 123,8 nghìn tấn, tăng 7%; tôm sú đạt 27,9 nghìn tấn, tăng 5,3%. Tính chung 10 tháng năm 2026, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 1.064,6 nghìn tấn, tăng 8,2%; tôm sú đạt 289,2 nghìn tấn, tăng 4,5%.

Ở lĩnh vực khai thác, sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 304,5 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá đạt 228,1 nghìn tấn, tăng 1,6%; tôm đạt 11 nghìn tấn, tương đương cùng kỳ; thủy sản khác đạt 65,4 nghìn tấn, tăng 0,3%.

Tính chung 10 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.334,8 nghìn tấn, tăng 0,9%. Trong đó, sản lượng cá đạt 2.585,3 nghìn tấn, tăng 0,7%; tôm đạt 108 nghìn tấn, tăng 1,5%; thủy sản khác đạt 641,5 nghìn tấn, tăng 1,7%.

Thời tiết trên biển tương đối thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng của bão so với cùng kỳ năm trước, tạo điều kiện để ngư dân duy trì và tăng cường hoạt động khai thác. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng đạt 290,7 nghìn tấn, tăng 1,4%; lũy kế 10 tháng đạt 3.192,3 nghìn tấn, tăng 1%.

Tính chung 10 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 8.850,5 nghìn tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 6.056,5 nghìn tấn, tăng 2,9%; tôm đạt 1.549,2 nghìn tấn, tăng 7,0%; thủy sản khác đạt 1.244,8 nghìn tấn, tăng 5,6%.

Chu Khôi

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/nong-lam-nghiep-va-thuy-san-duy-tri-da-tang-truong-bao-dam-nguon-cung-cuoi-nam.htm