Nông lâm thủy sản xuất siêu hơn 9 tỷ USD trong nửa đầu năm 2026
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam đạt 62,5 tỷ USD, bao gồm 35,8 tỷ USD xuất khẩu và 26,6 tỷ USD nhập khẩu.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 6/2026, Việt Nam thu về 6,34 tỷ USD từ xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu với 4,68 tỷ USD, tăng 14,1% YoY.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất nhập khẩu hàng nông lâm thủy sản đạt 62,5 tỷ USD, bao gồm xuất khẩu với 35,8 tỷ USD, tăng 6% YoY; nhập khẩu với 26,6 tỷ USD, tăng 11,7% YoY.
Về cán cân thương mại, tháng 6/2026, cán cân thương mại nông lâm thủy sản ước đạt thặng dư 1,6 tỷ USD, giảm 3,2% so với tháng trước nhưng tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại nông lâm thủy sản ước đạt thặng dư 9,2 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng mạnh
Nửa đầu năm 2026, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam khi chiếm 21,3% thị phần, tiếp đến là Mỹ với 19% và Nhật Bản với 6,8%.
So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung Quốc tăng 23,1%, Nhật Bản tăng 1,6% và Mỹ giảm 3,6%.
Về mặt hàng, trong kỳ, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng trưởng tích cực với 11,4% so với cùng kỳ năm trước, lên 5,7 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 4,4% YoY, đạt 8,5 tỷ USD.
Việt Nam xuất khẩu cà phê lại giảm 14,4% so với 6 tháng đầu năm 2025, còn 4,7 tỷ USD; rau quả với 3,6 tỷ USD, tăng 17,7% YoY; hạt điều với 2,3 tỷ USD, tăng nhẹ 1,6% YoY.
Trong nhóm tỷ USD, Việt Nam còn thu về 2,3 tỷ USD từ xuất khẩu gạo, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước; cao su với 1,2 tỷ USD, giảm 4,3% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu cũng tăng 11,6% YoY, lên 945 triệu USD; sắn và sản phẩm từ sắn với 2,2% YoY, đạt 701 triệu USD; chè giảm 2,3% YoY, còn 89,5 triệu USD.
Trong kỳ, Việt Nam xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi mang về 375 triệu USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm, trị giá xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 100,7 triệu USD, tăng 97,2% YoY; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 108,9 triệu USD, tăng 8,8% YoY.
Về giá xuất khẩu bình quân, hạt điều xuất khẩu trong nửa đầu năm 2026 ở mức 7.049 USD/tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; hạt tiêu lại giảm 9,5% YoY, còn 6.227 USD/tấn.
Cao su xuất khẩu với giá bình quân đạt 1.928 USD/tấn, tăng nhẹ 3,9% YoY; chè cũng tăng 0,9% YoY, đạt 1.684 USD/tấn; sắn và sản phẩm từ sắn tăng 16,2% YoY, đạt 352 USD/tấn.
Giá xuất khẩu cà phê giảm 22% so với cùng kỳ năm trước, còn 4.435 USD/tấn; gạo giảm 11,3% YoY, đạt 459 USD/tấn.
Nhập khẩu nông lâm thủy sản
Nửa đầu năm 2026, Mỹ, Trung Quốc và Campuchia tiếp tục là ba thị trường cung cấp hàng nông lâm thủy sản lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt đạt 10,2%, 9,8% và 8,9%. So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá nhập khẩu nông lâm thủy sản từ Mỹ tăng 23,5%, Trung Quốc tăng 17,6% và Campuchia tăng 30,6%.
Về mặt hàng, Việt Nam đã chi 2,7 tỷ USD để nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 797 triệu USD, tăng 9,6% YoY; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,12 tỷ USD, tăng 27,4% YoY.
Việt Nam còn chi 2,8 tỷ USD để nhập khẩu hạt điều, tăng 13% so với 6 tháng đầu năm 2025; gỗ và sản phẩm gỗ với 1,8 tỷ USD, tăng 20% YoY; ngô tăng 51,8% YoY, đạt 1,7 tỷ USD; rau quả với 30,9% YoY, ở mức 1,5 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu lúa mì tăng mạnh với 51,6% YoY, lên mức 1,2 tỷ USD; đậu tương cũng tăng 61,7% YoY, đạt 901 triệu USD; cao su tăng 7,3% YoY, đạt 1,5 tỷ USD; thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu tăng 7,3% YoY, ở mức 555 triệu USD.
Trong khi đó, trị giá nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu lại giảm 5,6% YoY, còn 2,2 tỷ USD; thủy sản giảm 1,1% YoY, xuống còn 1,5 tỷ USD; phân bón giảm 33,9% YoY, đạt 694 triệu USD.
Về giá nhập khẩu bình quân, hạt điều tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, lên 1.679 USD/tấn; đậu tương tăng 5,2% YoY, lên 480 USD/tấn; cao su tăng 3,4% YoY, đạt 1.763 USD/tấn; phân bón tăng 1,5% YoY, ở mức 336 USD/tấn.
Giá nhập khẩu lúa mì giảm 3,1% so với 6 tháng đầu năm 2025, còn 258 USD/tấn; ngô giảm 2,8% YoY, đạt 252 USD/tấn.











