Nông nghiệp hàng hóa từ những vùng trồng có 'địa chỉ'
Từ những vườn bưởi Soi Hà ven sông, vùng cam Vĩnh Hảo, Hàm Yên đến những nương chè Shan tuyết ở Thông Nguyên hay vùng nguyên liệu nghệ của Hợp tác xã Nông lâm nghiệp tổng hợp Ngọc Sơn, một phương thức sản xuất mới đang từng bước hình thành ở Tuyên Quang. Đó là xây dựng vùng trồng có quản lý, sản xuất theo tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn, đồng đều hơn, cách làm này còn giúp nông sản có “địa chỉ”, từng bước đáp ứng yêu cầu của những thị trường ngày càng khắt khe và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Khám phá vùng chè cổ thụ giữa núi rừng Tây Bắc
Từ vùng trồng đến sản phẩm có “địa chỉ”
Trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa, mã số vùng trồng không đơn thuần là một mã định danh trên hồ sơ. Quan trọng hơn, đây đang trở thành công cụ thúc đẩy người dân thay đổi phương thức sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu ổn định và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Ông Giang Đức Hiệp, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, cho biết đến giữa năm 2026, toàn tỉnh có 149 mã số vùng trồng, trong đó 25 mã phục vụ xuất khẩu sang thị trường EU và Trung Quốc.Tại vùng bưởi của Tổ hợp tác trồng bưởi thôn Soi Hà, 10 ha với 13 hộ dân đã được cấp mã số vùng trồng. Để đáp ứng yêu cầu, các hộ phải thống nhất quy trình sản xuất, kiểm soát sâu bệnh, sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định và ghi chép nhật ký sản xuất.
Việc chuẩn hóa quy trình bước đầu mang lại những kết quả rõ nét. Năm 2024, bưởi Soi Hà đã được xuất khẩu sang Vương quốc Anh và Cộng hòa Séc thông qua các mô hình sản xuất được cấp mã số vùng trồng.
Ông Trần Duy Hưng, người dân thôn Quang Trung 1, xã Xuân Vân, có hơn 30 năm gắn bó với cây bưởi, cho rằng sản xuất theo tiêu chuẩn buộc người trồng phải thay đổi nhiều thói quen, từ chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đến thu hoạch.“Làm theo quy trình thì vất vả hơn, nhưng đổi lại sản phẩm đồng đều, chất lượng tốt hơn và tạo được niềm tin với thị trường”, ông Hưng chia sẻ.
Gia đình ông hiện có hơn 300 gốc bưởi cho thu hoạch, mang lại khoản lãi hơn 500 triệu đồng mỗi năm sau khi trừ chi phí.
Từ cây bưởi, cách làm này đang được mở rộng sang cây cam, một trong những cây ăn quả chủ lực của Tuyên Quang. Tại vùng cam Vĩnh Hảo, xã Hùng An, việc xây dựng vùng sản xuất tập trung, kiểm soát quy trình chăm sóc và hướng tới truy xuất nguồn gốc đang từng bước hình thành phương thức sản xuất theo yêu cầu thị trường.
Người trồng cam không chỉ quan tâm đến năng suất mà ngày càng chú trọng chất lượng đất, nguồn nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thời điểm thu hái và khâu tiêu thụ. Đây chính là những yếu tố nền tảng để nông sản đáp ứng yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc của các hệ thống phân phối hiện đại.
Từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm chế biến
Không dừng ở việc chuẩn hóa vùng trồng, một số hợp tác xã trên địa bàn Tuyên Quang đang đi thêm một bước khi tổ chức vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu và phát triển sản phẩm hàng hóa.
Hợp tác xã Nông lâm nghiệp tổng hợp Ngọc Sơn đã xây dựng vùng nguyên liệu nghệ liên kết với hơn 100 hộ dân tại các xã Minh Ngọc, Yên Định, Yên Phong và Minh Sơn. Hợp tác xã cung cấp giống, phân bón, hướng dẫn kỹ thuật và cam kết bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn thị trường. Từ vùng nguyên liệu, nghệ được đưa vào dây chuyền sơ chế, sấy, lọc, nghiền và đóng gói theo quy trình khép kín, tạo thành sản phẩm tinh bột nghệ.
Sản phẩm tinh bột nghệ của hợp tác xã đã được chứng nhận OCOP 4 sao, qua đó nâng cao giá trị nguyên liệu và mở thêm hướng tiêu thụ cho nông sản địa phương. Câu chuyện của cây nghệ cho thấy giá trị của một vùng nguyên liệu không chỉ nằm ở sản lượng thu được trên đồng ruộng. Khi được tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và gắn với chế biến, một nông sản nguyên liệu có thể tạo ra nhiều giá trị gia tăng ngay tại địa phương.
Đây cũng là hướng đi giúp hạn chế tình trạng sản xuất nguyên liệu rồi phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường thô. Từ vùng nguyên liệu được quản lý, các hợp tác xã có thể chủ động hơn trong chế biến, xây dựng sản phẩm và từng bước hình thành thương hiệu.
Mã số vùng trồng mở đường vào thị trường lớn
Không chỉ với cây ăn quả, xây dựng vùng trồng có quản lý đang tạo động lực để các vùng chè của Tuyên Quang chuyển dần sang sản xuất theo tiêu chuẩn, gắn với liên kết chuỗi và mở rộng thị trường.
Toàn tỉnh hiện có hơn 28.000 ha chè, trong đó hơn 18.000 ha chè Shan tuyết; hơn 1.300 ha chè được chứng nhận VietGAP. Các vùng chè Shan tuyết tập trung tại Thông Nguyên, Cao Bồ, Hồ Thầu, Hồng Thái, Côn Lôn, Thượng Nông, Nà Hang và Lâm Bình.
Tại xã Thông Nguyên, Hợp tác xã Chè Minh Quang đã xây dựng mô hình liên kết sản xuất chè Shan tuyết theo chuỗi giá trị, hướng dẫn 129 hộ dân tại 6 thôn sản xuất chè hữu cơ, không sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật. Đồng thời, hợp tác xã xây dựng quy trình liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ.
Theo ông Nguyễn Thế Soạn, Phó Chủ tịch UBND xã Thông Nguyên, giá trị của mã số vùng trồng không chỉ nằm ở khả năng truy xuất nguồn gốc mà còn tạo ra một “luật chơi” chung cho người sản xuất.
Khi cùng tham gia một vùng sản xuất, mỗi hộ phải có trách nhiệm giữ gìn chất lượng chung. Chỉ một hộ thực hiện không đúng quy trình cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả vùng. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa sản xuất nhỏ lẻ theo kinh nghiệm với sản xuất hàng hóa theo tiêu chuẩn. Người nông dân không còn chỉ chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của gia đình mình mà phải cùng chịu trách nhiệm về chất lượng của cả vùng nguyên liệu.
Ông Nguyễn Xuân Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, đánh giá việc xây dựng mã số vùng trồng phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp trong bối cảnh các thị trường ngày càng nâng cao yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Thông qua chuẩn hóa vùng nguyên liệu, ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào và truy xuất nguồn gốc, người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có điều kiện chủ động hơn trong sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản. Thực tế cho thấy, những vùng sản xuất được chuẩn hóa đang mở thêm cơ hội để nông sản Tuyên Quang tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao.
Bưởi Soi Hà có cơ hội xuất khẩu sang châu Âu và tiêu thụ tại các hệ thống phân phối ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Chè Shan tuyết từng bước mở rộng thị trường sang Trung Đông, Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Mỹ và Canada. Cam Hàm Yên được định hướng sản xuất theo tiêu chuẩn, tăng cường truy xuất nguồn gốc để mở rộng thị trường.
Trong khi đó, cây nghệ từ vùng nguyên liệu liên kết được đưa vào chế biến sâu, tạo ra sản phẩm OCOP có giá trị gia tăng cao hơn so với việc chỉ tiêu thụ nguyên liệu thô.
Không chỉ “có mã” mà phải giữ được chất lượng
Việc cấp mã số vùng trồng mới chỉ là bước khởi đầu. Để mã số thực sự trở thành nền tảng của sản xuất hàng hóa bền vững, điều quan trọng hơn là duy trì chất lượng và tuân thủ nghiêm quy trình sản xuất. Nếu vùng trồng đã được cấp mã nhưng người dân không duy trì quy trình, không ghi chép đầy đủ hoặc sử dụng vật tư không đúng quy định, giá trị của mã số sẽ bị suy giảm, thậm chí có thể ảnh hưởng đến khả năng duy trì thị trường.
Bởi vậy, xây dựng mã số vùng trồng cần được triển khai đồng bộ với mã số cơ sở đóng gói, hệ thống truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng, chế biến và liên kết tiêu thụ. Đây là yêu cầu để các vùng sản xuất không chỉ đáp ứng điều kiện của một mùa vụ mà có thể duy trì chất lượng ổn định qua nhiều năm.
Sâu xa hơn, mã số vùng trồng đang góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân: từ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất theo quy trình; từ chạy theo sản lượng sang chú trọng chất lượng; từ bán sản phẩm đơn lẻ sang tham gia chuỗi giá trị.
Khi mỗi vùng đất có một “địa chỉ” rõ ràng, mỗi sản phẩm có một quy trình sản xuất minh bạch, nông sản không chỉ được nhận diện về nguồn gốc mà còn từng bước tạo dựng niềm tin trên thị trường.
Từ đó, mã số vùng trồng trở thành một trong những nền tảng để Tuyên Quang phát triển các vùng nguyên liệu hàng hóa theo hướng chất lượng, an toàn, minh bạch và bền vững.

