Nông nghiệp hữu cơ: Gỡ nút thắt chi phí, hoàn thiện tiêu chuẩn
Hành trình chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam đang gặp khó khăn từ bài toán về sự lệch pha giữa giá nông sản và vật tư đầu vào, cho đến gánh nặng chi phí chứng nhận cùng khoảng trống về tiêu chuẩn pháp lý. Điều này khiến các HTX và hộ nông dân đối mặt với những nút thắt lớn cần sớm có lời giải đồng bộ.
Tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Thực tiễn, định hướng và giải pháp”, bức tranh thực tế về những áp lực tài chính mà người trồng lúa và các hợp tác xã (HTX) đang phải đối mặt đã được phác họa một cách rõ nét qua những con số thống kê từ HTX Sản xuất và Dịch vụ Nông nghiệp Tấn Đạt (Vĩnh Long).
Áp lực chi phí và vật tư đầu vào
Theo chia sẻ của ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc HTX Tấn Đạt trong suốt chặng đường 16 năm (từ năm 2010 đến năm 2026), giá lúa tươi thương phẩm (giống IR50404) gần như chỉ giậm chân tại chỗ hoặc tăng rất nhẹ. Từ mức 3.900 – 4.000 đồng/kg vào năm 2010, đến năm 2026 giá lúa chỉ đạt mức 6.000 đồng/kg, tức mức tăng khiêm tốn khoảng 1,5 đến 1,54 lần.
Trái ngược hoàn toàn với đà tăng "nhích từng chút một" của hạt lúa, mặt bằng giá các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất lúa hữu cơ lại chứng kiến đà phi mã phi mã. Giá phân urê tăng gần gấp đôi, từ 6.600 đồng/kg lên 13.000 đồng/kg (tăng 1,97 lần). Giá xăng dầu đẩy chi phí cơ giới hóa, bơm tưới và vận chuyển tăng 1,63 lần (từ 16.400 đồng/lít lên 26.670 đồng/lít). Chi phí nhân công – được đối chiếu qua mức lương căn cứ – tăng tới 3,47 lần (từ 0,73 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng/tháng). Thậm chí, thước đo giá trị tích lũy là vàng SJC cũng tăng tới 3,99 lần (từ 36 triệu đồng lên 143,6 triệu đồng/lượng).

TS KH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, cho rằng cần phải tiếp tục hoàn thiện những khoảng trống pháp lý để phù hợp với tình hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiện nay.
Nói một cách dễ hiểu, nếu như năm 2010, thành viên HTX chỉ cần bán khoảng 83 – 85 kg lúa tươi là đủ tiền mua một bao phân urê 50 kg, thì đến năm 2026, họ phải bán tới khoảng 108 kg lúa mới đổi lại được lượng vật tư tương đương. Sức mua quy đổi của hạt lúa đối với phân bón đã giảm gần 30%.
Sự chênh lệch này khiến biên lợi nhuận của người trồng lúa bị bào mòn. Đáng nói, khi quyết định bước chân vào con đường canh tác hữu cơ với mong muốn nâng cao giá trị sản phẩm, không chỉ HTX Tấn Đạt mà nhiều HTX khác lại đụng ngay khó khăn về chi phí chuyển đổi và chứng nhận.
Đại diện HTX Tấn Đạt cho biết, để đạt được chứng nhận hữu cơ quốc tế cho quy mô 30 ha, HTX phải chi trả tới 130 triệu đồng cho mỗi lần đánh giá. Đây là một khoản tiền quá lớn so với nguồn lực hạn hẹp của một HTX quy mô nhỏ. Trong khi đó, giai đoạn đầu chuyển đổi từ canh tác hóa chất sang hữu cơ đòi hỏi đất đai phải có thời gian phục hồi, làm cho năng suất giảm sút, kéo theo lợi nhuận sụt giảm sâu.
"Khả năng tổ chức sản xuất sạch đồng nghĩa với việc năng suất giảm, lợi nhuận đi xuống. Nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro và vốn hỗ trợ dài hạn, HTX rất khó để bám trụ," đại diện HTX Tấn Đạt trải lòng.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc sản xuất mảng nông nghiệp công ty BAF Việt Nam, cho biết trong chăn nuôi, vấn đề nguyên liệu đầu vào, nhất là cám vẫn bị phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Ngoài ra, các đơn vị phải đầu tư hạ tầng lớn về hệ thống bơm, tưới nên chi phí đầu tư không hề nhỏ.
Từ thực tiễn này, bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban thường vụ Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, đánh giá rằng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam tuy có tốc độ tăng trưởng diện tích nhanh hơn trung bình châu Á, nhưng chi phí chứng nhận cao và rủi ro trong giai đoạn đầu chuyển đổi vẫn là rào cản lớn nhất đối với nông dân/HTX.
“Nhiều mô hình ở giai đoạn đầu được các dự án hỗ trợ chi phí đánh giá miễn phí thì vận hành rất tốt, nhưng khi dự án kết thúc, các HTX lập tức rơi vào khủng hoảng vì không tự gánh nổi chi phí duy trì chứng nhận hàng năm”, bà Từ Thị Tuyết Nhung dẫn chứng.
Không dừng lại ở bài toán tài chính, khó khăn thứ hai và cũng là nút thắt lớn nhất mang tính hệ thống, chính là sự thiếu đồng bộ về tiêu chuẩn pháp lý, danh mục vật tư đầu vào và sự đứt gãy trong chuỗi liên kết tiêu thụ.

Chi phí chuyển đổi, đạt chứng nhận (quốc tế tế) của HTX Tấn Đạt là130 triệu/lần đánh giá (cho 30 ha).
Hiện nay, việc thiếu một bộ tiêu chuẩn nhất quán và danh mục vật tư đầu vào chuẩn hóa dành riêng cho nông nghiệp hữu cơ đang khiến cả người sản xuất lẫn cơ quan quản lý lúng túng. TS Lê Mai Nhất, Viện Bảo vệ Thực vật, chỉ ra một thực tế nhức nhối: Trong khi danh mục thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được phép sử dụng trong nông nghiệp thông thường đã có quy định rõ ràng, thì danh mục thuốc BVTV sinh học hay vật tư chuẩn hóa dành riêng cho nông nghiệp hữu cơ lại vẫn chưa hoàn thiện.
Nhiều sản phẩm trên thị trường ghi nhãn là "sinh học" như nhóm chất Abamectin, nhưng theo các chuyên gia, đây lại là chất có độ độc cao và tuyệt đối không được dùng trong sản xuất hữu cơ. Thêm vào đó, tâm lý thương mại của các cửa hàng vật tư nông nghiệp cũng là rào cản. “Có một thực tế là các loại chế phẩm sinh học an toàn, hiệu quả lại ít được bày bán tại của hàng vật tư nông nghiệp do mang lại lợi nhuận thấp hơn so với thuốc hóa học đai trà”, TS Lê Nhất Mai cho biết.
Trong khi những năm gần đây, dịch bệnh bùng phát – đơn cử như đợt dịch châu chấu xuất hiện trên diện rộng tại Lạng Sơn, Cao Bằng (5/2026) hay nạn bọ xít muỗi lan rộng từ cây chè sang nhiều loại cây trồng khác, người làm nông nghiệp hữu cơ gần như "bó tay" vì không biết dùng loại thuốc nào vừa đúng quy chuẩn hữu cơ, vừa dập được dịch.
Sự bất cập này dẫn đến hệ lụy tất yếu đó là liên kết giữa sản xuất và thị trường trở nên cực kỳ rời rạc. Hợp đồng bao tiêu nông sản hữu cơ giữa doanh nghiệp và HTX thường dễ bị vỡ trận khi thị trường biến động giá. Khi giá thị trường tăng cao, nông dân dễ xiêu lòng bán ra ngoài; ngược lại khi giá sụt giảm hoặc gặp sự cố chất lượng, doanh nghiệp lại sẵn sàng "bẻ kèo". Thiếu một cơ chế chia sẻ rủi ro mềm dẻo và thực chất khiến cả hai bên đều thiếu niềm tin lẫn nhau, đẩy người sản xuất hữu cơ vào thế cô độc.
Không thể áp dụng công thức chung cho các vùng
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho nông dân, thành viên HTX và đưa ngành nông nghiệp phát triển bền vững. Chỉ tiêu đến năm 2030 (Theo Quyết định 885/QĐ-TTg)là diện tích đất nông nghiệp hữu cơ đạt khoảng 2,5 – 3,0% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước.
Để làm được điều này, TS KH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, cho rằng đã đến lúc phải hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ hơn.Trong đó, cần sớm xây dựng và ban hành chuẩn hóa hệ thống kiểm định, công nhận tiêu chuẩn hữu cơ, đặc biệt là nhanh chóng ban hành danh mục vật tư đầu vào (phân bón, chế phẩm BVTV sinh học) được phép sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ để người dân và HTX có hành lang pháp lý rõ ràng để thực hiện.
PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam, nhận định, nông nghiệp hữu cơ là trụ cột của nông nghiệp sinh thái. Tuy nhiên, để giảm chi phí, thuận lợi mở rộng diện tích, quy trình sản xuất không thể áp dụng chung một công thức cho tất cả các vùng miền. Sản xuất hữu cơ vùng ven đô phải khác vùng miền núi, và hoàn toàn khác với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Do đó, cần phải huy động sự đa dạng về tri thức từ chính kinh nghiệm của nông dân, các HTX, kết hợp với các viện, trường nghiên cứu để xây dựng quy trình kỹ thuật phù hợp cho từng vùng sinh thái. Đối với rủi ro dịch bệnh, TS Lê Mai Nhất đề xuất giải pháp thay đổi tư duy từ "tiêu diệt tận gốc" sang "sống chung hòa bình", ưu tiên chọn tạo và sử dụng các giống bản địa có khả năng chống chịu bệnh tốt và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, về mặt tư duy kinh tế và định giá sản phẩm, PGS.TS Đào Thế Anh đưa ra một góc nhìn mở, đó là đã đến lúc chính quyền các địa phương và người tiêu dùng không nên chỉ nhìn nhận nông nghiệp hữu cơ hay sinh thái ở góc độ "bán được bao nhiêu sản phẩm đạt chứng nhận".
Nông nghiệp hữu cơ hay nông nghiệp sinh thái mang lại giá trị đa tầng vượt xa sản lượng nông sản thuần túy, đó là đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, nâng cao dinh dưỡng, giảm phụ thuộc vào vật tư nhập khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Việc công nhận và hỗ trợ dựa trên những đóng góp cho hệ sinh thái tổng thể sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp người dân và HTX kiên trì đi theo con đường sản xuất xanh, bền vững.
