Nộp tiền thuê đất trước khi Nghị định 245/2026/NĐ-CP có hiệu lực thì có được miễn tiền chậm nộp không?
Doanh nghiệp phải nộp tiền thuê đất kỳ 1 năm 2026 trước ngày 31/5 nhưng thực tế đã hoàn thành nghĩa vụ vào ngày 15/6/2026, phát sinh 3 triệu đồng tiền chậm nộp. Sau khi Nghị định 245 được ban hành, doanh nghiệp mới làm văn bản đề nghị gia hạn. Vậy khoản tiền chậm nộp 3 triệu đồng có được miễn không?
Hỏi:
Theo thông báo của thuế tỉnh, Công ty tôi phải đóng tiền thuê đất năm 2026 là 2 kỳ, trong đó kỳ 1 hạn cuối vào ngày 31/5/2026. Công ty tôi đã đóng hết số tiền kỳ 1 vào ngày 15/6/2026 (tức là sau hạn nộp theo thông báo nhưng trước ngày ban hành Nghị định 245), thời điểm này phát sinh lãi chậm nộp là 3 triệu đồng, công ty chưa đóng tiền lãi chậm nộp.
Sau khi ban hành Nghị định 245/2026/NĐ-CP, thì trong tháng 7/2026 tôi có làm văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất nộp cho cơ quan thuế. Vậy Công ty tôi căn cứ theo Điều 4 Nghị định 245 "không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong khoảng thời gian được gia hạn thời hạn nộp" hay căn cứ theo Khoản 2 Điều 5 "Trường hợp người nộp thuế đã nộp các khoản thuế, tiền thuê đất thuộc diện được gia hạn theo quy định tại Điều 2 Nghị định này trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì không điều chỉnh lại" , vậy công ty tôi có phải đóng tiền lãi chậm nộp này không?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 quy định:
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
…
2. Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm:
a) Doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng, khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp), hộ gia đình, cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc các ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này và có phát sinh số thuế giá trị gia tăng, thuế thunhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân hoặc tiền thuê đất thuộc các kỳ được giahạn theo quy định tại Điều 2 Nghị định này;
b) Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng, khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp, có phát sinh số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tiền thuê đất thuộc các kỳ được gia hạn theo quy định tại Điều 2 Nghị định này.”
Tại khoản 2 và khoản 5 Điều 3 Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 quy định:
“Điều 3. Trình tự thực hiện gia hạn
…
2. Người nộp thuế trực tiếp kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế thuộc đối tượng được gia hạn gửi Văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất (sau đây gọi là Văn bản đề nghị gia hạn) lần đầu hoặc thay thế khi phát hiện có sai sót (bằng phương thức điện tử; gửi bản giấy trực tiếp đến cơ quan thuế hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính) theo Mẫu tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp một lần cho toàn bộ số thuế, tiền thuê đất phát sinh trong các kỳ tính thuế được gia hạn cùng với thời điểm nộp hồ sơ khai thuế theo tháng (hoặc theo quý) theo quy định pháp luật về quản lý thuế. Trường hợp Văn bản đề nghị gia hạn không nộp cùng với thời điểm nộp hồ sơ khai thuế tháng (hoặc theo quý) thì thời hạn nộp chậm nhất là ngày 02 tháng 11 năm 2026
.…
5. Trường hợp trong thời gian gia hạn, cơ quan thuế có cơ sở xác định người nộp thuế không thuộc đối tượng gia hạn thì cơ quan thuế có văn bản thông báo cho người nộpthuế về việc không được gia hạn và người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế, tiền thuê đấtvà tiền chậm nộp trong khoảng thời gian đã thực hiện gia hạn vào ngân sách nhà nước. Trường hợp sau khi hết thời gian gia hạn, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện người nộp thuế không thuộc đối tượng được gia hạn số thuế, tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này thì người nộp thuế phải nộp số tiền thuế còn thiếu, tiền phạt và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước”.
Tại Điều 4 Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 quy định:
“Điều 4. Xử lý tiền chậm nộpKhông tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong khoảng thời gian được gia hạn thời hạn nộp (bao gồm cả trường hợp người nộp thuế gửi Văn bản đề nghị gia hạn sau khi đã nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này; trường hợp người nộp thuế khai bổ sung làm tăng số phải nộp của kỳ tính thuế được gia hạn và trường hợp cơ quan có thẩm quyền qua kiểm tra, thanh tra xác định người nộp thuế được gia hạn có số phải nộp tăng thêm của các kỳ tính thuế được gia hạn).
Trường hợp Hệ thống thông tin quản lý thuế đã tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất thuộc đối tượng được gia hạn thì cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh, hủy số tiền chậm nộp đã tính trong thời gian được gia hạn theo quy định.”
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp người nộp thuế (NNT) thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định số 245/2026/NĐ-CP, đã nộp tiền thuê đất đợt 1 năm 2026 vào ngày15/6/2026 và đã gửi văn bản đề nghị gia hạn tiền thuê đất cho cơ quan thuế thì được điều chỉnh, hủy số tiền chậm nộp đã tính trong thời gian được gia hạn theo quy định.
Trường hợp trong thời gian gia hạn, cơ quan thuế có cơ sở xác định NNT không thuộc đối tượng gia hạn thì NNT phải nộp đủ số tiền thuế, tiền thuê đất và tiền chậm nộp trong khoảng thời gian đã thực hiện gia hạn vào ngân sách nhà nước. Sau khi hết thời gian gia hạn, qua kiểm tra phát hiện NNT không thuộc đối tượng được gia hạn thì NNT phải nộp số tiền thuế còn thiếu, tiền phạt và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước.
