Nửa đầu tháng 9, nhập khẩu tăng gần gấp ba xuất khẩu, nhập siêu 2,8 tỷ USD
Nửa đầu tháng 9/2026, cán cân thương mại chịu sức ép khi nhập khẩu tăng 7,16%, gần gấp ba tốc độ tăng 2,4% của xuất khẩu, đưa mức nhập siêu trong kỳ lên 2,82 tỷ USD. Khi nhập khẩu đầu vào tăng nhanh hơn xuất khẩu, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô nhập siêu mà còn ở khả năng chuyển hóa thành sản phẩm xuất khẩu trong những tháng tiếp theo…

Nửa đầu tháng 9, nhập khẩu tăng gần gấp ba xuất khẩu, nhập siêu 2,8 tỷ USD. Ảnh: Việt Dũng
Theo báo cáo sơ bộ của Cục Hải quan, trong kỳ 1 tháng 9/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 54,86 tỷ USD, tăng 4,85% so với kỳ 1 tháng 8. Lũy kế đến hết ngày 15/9, quy mô thương mại hàng hóa đạt 825,19 tỷ USD, tăng 29,44% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, mức tăng của tổng kim ngạch thương mại trong kỳ chủ yếu đến từ chiều nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu đạt 26,02 tỷ USD, tăng 2,4%, trong khi nhập khẩu đạt 28,84 tỷ USD, tăng tới 7,16%. Chênh lệch tốc độ tăng giữa hai chiều cho thấy nhu cầu nhập khẩu đang phục hồi nhanh hơn xuất khẩu, qua đó tiếp tục tạo sức ép lên cán cân thương mại trong ngắn hạn.
Xét riêng chiều xuất khẩu, mức tăng 2,4% trong kỳ 1 tháng 9 tiếp tục cho thấy động lực tăng trưởng tập trung mạnh vào một số nhóm hàng chủ lực, thay vì lan tỏa đồng đều trên toàn bộ cơ cấu xuất khẩu.
Nổi bật nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Kim ngạch nhóm này đạt khoảng 9,57 tỷ USD, tăng 30,62% so với kỳ 1 tháng 8. Với quy mô lớn và mức tăng đột biến, đây là nhóm đóng góp quan trọng nhất vào mức tăng chung của xuất khẩu trong kỳ.
Mức tăng 2,4% của xuất khẩu trong kỳ 1 tháng 9 chủ yếu được kéo bởi nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Cơ cấu này cho thấy xuất khẩu vẫn duy trì được đà tăng, nhưng động lực tăng trưởng đang tập trung vào một số ngành công nghệ cao, còn sức phục hồi của các nhóm hàng tiêu dùng và xuất khẩu truyền thống vẫn khá mong manh.
Nếu không có mức tăng đột biến của nhóm hàng này, kim ngạch xuất khẩu nhiều khả năng giảm bởi hàng loạt mặt hàng chủ lực khác đồng loạt đi xuống.
Đáng chú ý, điện thoại và linh kiện giảm 20,41%, triệt tiêu một phần đáng kể mức tăng từ nhóm điện tử. Sự trái chiều này cho thấy động lực xuất khẩu điện tử đang có sự phân hóa khá rõ theo từng phân khúc.
Bên cạnh đó, so với kỳ 1 tháng 8, nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác cũng ghi nhận mức tăng 9,47%. Đây là tín hiệu tích cực đối với hoạt động xuất khẩu các sản phẩm phục vụ sản xuất, công nghiệp và đầu tư.
Nếu trong kỳ trước, nhóm này chỉ tăng 8,4% thì sang kỳ 1 tháng 9, tốc độ tăng đã được cải thiện. Dù vậy, đóng góp của nhóm máy móc vẫn khá nhỏ nếu đặt cạnh máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu công nghiệp chế biến, chế tạo trong kỳ vẫn phụ thuộc đáng kể vào một số mặt hàng điện tử có quy mô rất lớn.
Ngược lại, các ngành hàng thâm dụng lao động như hàng dệt may giảm 17,4%, tương ứng giảm hơn 321,4 triệu USD; giày dép giảm 18,89%, tương ứng giảm khoảng 184,2 triệu USD. Đây đều là những mức giảm lớn cả về tỷ lệ lẫn giá trị tuyệt đối, trở thành một trong những yếu tố chính kìm hãm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong kỳ.
Diễn biến này tạo ra sự tương phản khá rõ giữa hai nhóm động lực xuất khẩu. Trong khi các sản phẩm công nghệ cao tiếp tục tăng mạnh thì những ngành gắn với nhu cầu tiêu dùng như dệt may và giày dép lại suy giảm sâu. Điều đó cho thấy sự phục hồi của nhu cầu quốc tế chưa diễn ra đồng đều, đặc biệt khi sức mua đối với một số nhóm hàng tiêu dùng vẫn chịu áp lực.

Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 9/2026 và kỳ 1 tháng 8/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Ở chiều nhập khẩu, mức tăng 7,16% cũng chủ yếu đến từ sự gia tăng của cả nhóm linh kiện, nguyên vật liệu và một số mặt hàng phục vụ sản xuất. Động lực lớn nhất vẫn nằm ở khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, nhưng diễn biến đáng chú ý là tốc độ tăng nhập khẩu ở một số đầu vào đang cao hơn khá nhiều so với mức tăng của xuất khẩu thành phẩm.
Cụ thể, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là nhóm có quy mô nhập khẩu lớn nhất, đạt khoảng 13,12 tỷ USD, tăng 3,06%.
Khác với kỳ 1 tháng 7 khi nhập khẩu điện tử tăng trong lúc xuất khẩu giảm, đến kỳ 1 tháng 9, hai chiều đã chuyển sang cùng tăng. Sự đồng pha này cho thấy hoạt động sản xuất và giao hàng trong chuỗi điện tử đang có dấu hiệu gắn kết hơn. Nhập khẩu đầu vào tăng trong khi xuất khẩu thành phẩm cũng tăng mạnh có thể phản ánh quá trình bổ sung nguyên liệu, linh kiện đang phục vụ cho hoạt động sản xuất thực tế, thay vì chỉ tạo thêm lượng hàng tồn kho.
Đây là sự thay đổi khá tích cực nếu đặt cạnh diễn biến của chính nhóm hàng này ở chiều xuất khẩu khi tăng tới 30,62%. Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác cũng cho thấy diễn biến tương tự. Nhập khẩu tăng 4,79% trong khi xuất khẩu tăng 9,47%, thêm gần 294,6 triệu USD
Trái lại, nhập khẩu điện thoại và linh kiện tăng 9,17%, trong khi xuất khẩu giảm tới 20,41%. Việc đầu vào tăng nhưng đầu ra giảm có thể liên quan đến độ trễ giữa thời điểm nhập linh kiện và hoàn tất đơn hàng, thay đổi cơ cấu sản phẩm hoặc sự khác biệt về chu kỳ sản xuất và giao hàng. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài, khả năng hấp thụ lượng đầu vào nhập khẩu sẽ trở thành yếu tố cần theo dõi.
Đặc biệt, việc nhập khẩu vải tăng mạnh 26,88% trong khi xuất khẩu hàng dệt may lại giảm 17,40%, cho thấy sự lệch pha khá rõ giữa khâu đầu vào và đầu ra của ngành dệt may trong kỳ.
Doanh nghiệp vẫn gia tăng nhập khẩu nguyên liệu trong lúc kim ngạch xuất khẩu thành phẩm suy giảm. Một phần có thể xuất phát từ độ trễ của chuỗi sản xuất, khi nguyên liệu nhập khẩu ở kỳ này được sử dụng cho các đơn hàng giao trong những kỳ tiếp theo.
Tuy nhiên, nếu xuất khẩu tiếp tục giảm trong khi nhập khẩu nguyên liệu duy trì ở mức cao, khoảng cách giữa đầu vào và đầu ra sẽ lớn dần và có thể tạo áp lực lên tồn kho, dòng tiền cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Diễn biến ở nhóm năng lượng cũng cho thấy xu hướng nhập khẩu không tăng đồng đều. Dầu thô tăng mạnh 43,83%, trong khi xăng dầu các loại giảm 19,46% và than đá giảm 24,1%. Sự dịch chuyển này có thể liên quan đến nhu cầu đầu vào của các cơ sở sản xuất, lọc hóa dầu cũng như biến động về giá và cơ cấu nguồn cung năng lượng.

Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 8/2026 và kỳ 1 tháng 7/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục chi phối dòng chảy thương mại của Việt Nam ở cả hai chiều, nhưng tốc độ tăng giữa xuất khẩu và nhập khẩu có sự chênh lệch.
Trong kỳ 1 tháng 9, khu vực FDI xuất khẩu 21,81 tỷ USD, tăng 5,57% so với kỳ 1 tháng 8 trong khi đó, nhập khẩu của khu vực này đạt 22,25 tỷ USD, tăng 7,16%. Như vậy, khu vực FDI vẫn tạo lực kéo cho xuất khẩu, nhưng nhu cầu nhập khẩu của khu vực này đang tăng nhanh hơn đầu ra xuất khẩu trong cùng kỳ.
Chênh lệch khoảng 440 triệu USD giữa nhập khẩu và xuất khẩu khiến khu vực FDI ghi nhận trạng thái nhập siêu trong kỳ. Điều này cũng cho thấy quy mô sản xuất của khu vực FDI tiếp tục gắn chặt với nguồn cung ứng từ bên ngoài, đặc biệt đối với linh kiện, nguyên vật liệu và thiết bị.
Mức tăng 7,16% của nhập khẩu cao hơn gần ba lần mức tăng 2,4% của xuất khẩu khiến cán cân thương mại thâm hụt tới 2,82 tỉ USD. Vấn đề cần quan tâm không nằm ở việc nhập khẩu tăng đơn thuần, mà ở khả năng chuyển hóa lượng đầu vào này thành sản phẩm xuất khẩu trong các kỳ tiếp theo.
Nếu các nhóm có nhập khẩu và xuất khẩu cùng tăng tiếp tục duy trì xu hướng này, nhập khẩu đầu vào có thể trở thành tiền đề cho tăng trưởng xuất khẩu. Ngược lại, nếu tình trạng nhập khẩu tăng nhưng đầu ra tiếp tục suy giảm ở điện thoại, dệt may và một số ngành hàng khác kéo dài, sức ép lên cán cân thương mại sẽ lớn hơn.
