Nước biển dâng sẽ nhấn chìm 1/3 diện tích Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập do nước biển dâng cao nhất: 13,54 - 18,44% diện tích vào cuối thế kỷ này.

Bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng ở các khu vực trên cả nước

Sáng ngày 9/10, TS. Lê Quốc Huy và TS. Nguyễn Thanh Bằng, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết, kịch bản nước biển dâng và nguy cơ ngập do biến đổi khí hậu ở Việt Nam có nhiều điểm đáng lưu ý.

Bản đồ nguy cơ ngập nước biển dâng theo vùng kịch bản SSP3-7.0 cuối thế kỷ XXI cho thấy, ven biển Bắc Bộ nguy cơ ngập rất thấp, tỷ lệ diện tích ngập tăng từ 0,17% (giữa thế kỷ) lên 0,55% (cuối thế kỷ), chủ yếu tại cửa sông và vùng trũng ven biển.

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực chịu tác động mạnh nhất bởi nước biển dâng. Ảnh: PV

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực chịu tác động mạnh nhất bởi nước biển dâng. Ảnh: PV

Bắc Trung Bộ nguy cơ ngập thấp, tăng từ 0,35% lên 0,66%, ngập giới hạn trong dải ven biển hẹp và ít lan sâu vào nội địa. Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên nguy cơ ngập thấp nhất cả nước, chỉ tăng từ 0,02% lên 0,13% do địa hình cao, dốc và đồng bằng ven biển hẹp, ngập mang tính cục bộ.

Đông Nam Bộ nguy cơ ngập thấp, tăng từ 0,20% lên 0,34%, vùng ngập tập trung tại TP. Hồ Chí Minh (từ 1,73% lên 2,92%). Đồng bằng sông Cửu Long nguy cơ ngập rất cao và nghiêm trọng nhất cả nước, tăng mạnh từ 1,26 – 1,38% lên 13,54 – 18,44% vào cuối thế kỷ (SSP2-4.5 – SSP3-7.0), lớn nhất tại An Giang và Cà Mau.

Bản đồ nguy cơ ngập các khu vực trên cả nước.

Bản đồ nguy cơ ngập các khu vực trên cả nước.

Tỷ lệ (%) các hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội chịu ảnh hưởng bởi nguy cơ ngập do nước biển dâng tại Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản SSP3-7.0 giai đoạn cuối thế kỷ cụ thể gồm: có 33,78% diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng chịu ảnh hưởng; 21,27% diện tích nông nghiệp toàn vùng chịu ảnh hưởng; 68,68% diện tích nuôi trồng thủy sản tại An Giang – cao nhất vùng bị ảnh hưởng. 

Nhóm nghiên cứu kết luận, nguy cơ ngập tăng đột biến cuối thế kỷ, nước biển dâng khoảng 19 – 21 cm vào giữa thế kỷ và 50 – 64 cm vào cuối thế kỷ. Giữa thế kỷ, tỷ lệ diện tích nguy cơ ngập do nước biển dâng tương đối thấp (dưới 1,38%) ở tất cả các vùng; đến cuối thế kỷ tỷ lệ diện tích này tăng mạnh, lên mức 0,09-13,54 (SSP2-4.5) và 0,13-18,44% (SSP3-7.0).

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập do nước biển dâng cao nhất 13,54 – 18,44% diện tích vào cuối thế kỷ, gấp 10 – 13 lần giữa thế kỷ; cao nhất tại Cà Mau (32,44%), An Giang (29,13%), Cần Thơ (15,21%). Các vùng còn lại dưới 1%, ngập cục bộ ở cửa sông, vùng trũng ven biển.

Nhóm tác giả cho biết, bản đồ nguy cơ ngập trong kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam 2025 được sử dụng như cơ sở ban đầu để nhận diện các khu vực có nguy cơ chịu ảnh hưởng của nước biển dâng. Đối với các địa phương hoặc khu vực cần đánh giá chi tiết phục vụ quy hoạch, thiết kế công trình, xây dựng phương án phòng, chống thiên tai,... cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hoặc mô hình thủy lực, kết hợp với các yếu tố khác và điều kiện đặc thù của địa phương để đánh giá đầy đủ hơn phạm vi và diễn biến ngập.

Thời tiết ở các đô thị sẽ biến đổi thế nào?

Chia sẻ thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu đô thị và tác động đến các ngành, lĩnh vực , TS Nguyễn Hữu Quyền, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết, biểu hiện của biến đổi khí hậu đô thị là dữ liệu quan trắc nắng nóng, đảo nhiệt và mưa cực đoan. Giai đoạn 1984-2023, nắng nóng gia tăng tại nhiều đô thị, tốc độ tang khác nhau giữa các địa điểm.

Trong các pha ENSO, độ dài các đợt nắng nóng có sự khác biệt. El Nino thường gắn với các đợt nóng kéo dài hơn tại nhiều trạm. Về hiệu ứng đảo nhiệt đô thị thể hiện chênh lệch nhiệt nội đô và vùng tham chiếu. Các khu vực xây dựng dày đặc có thể nóng hơn vùng xanh, mặt nước.

Phân tích kịch bản biến đổi khí hậu đô thị cho Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, TS Nguyễn Hữu Quyền cho biết, đến cuối thế kỷ XXI, mức nhiệt ở nội đô Hà Nội sẽ tăng từ 3,6–4,2°C trong khi khu vực nội đô TP. Hồ Chí Minh tăng từ 3,5–3,7°C.

Kịch bản cũng dự báo số ngày nắng nóng tăng mạnh ở cả hai đô thị. Theo kịch bản biến đổi khí hậu, số ngày nắng nóng ở nội đô Hà Nội tăng khoảng 70 ngày, nội đô TP. Hồ Chí Minh tăng khoảng 100 ngày.

Kịch bản dự báo số ngày nắng nóng tăng mạnh ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Kịch bản dự báo số ngày nắng nóng tăng mạnh ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Lượng mưa hàng năm có xu thế tăng, mức tăng tại nội đô thường cao hơn vùng ngoại ô. Số ngày mưa lớn có xu thế gia tăng. Mức bất định của lượng mưa cao hơn nhiệt độ, điều này làm gia tăng áp lực đối với hệ thống thoát nước và quản lý ngập.

Biến đổi khí hậu tác động đến các ngành, lĩnh vực trong đó đầu tiên là sức khỏe cộng đồng, dịch bệnh và công trình. Số ngày nhiệt độ cao gia tang đồng nghĩa nguy cơ sốc nhiệt tăng, nguy cơ stress nhiệt gia tăng, đặc biệt trong không gian nội đô.

Nhóm nghiên cứu cũng nhận định, khí hậu nóng lên có thể làm tăng nguy cơ bệnh truyền qua véc-tơ. Nguy cơ dịch bệnh số xuất huyết có sự gia tăng theo các kịch bản và ngưỡng nóng lên toàn cầu Ở ngưỡng 3°C số ca dự tính tăng khoảng 50–60% ở Hà Nội; khoảng 35–37% ở TP. Hồ Chí Minh.

Tô Hội

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/nuoc-bien-dang-se-nhan-chim-1-3-dien-tich-dong-bang-song-cuu-long-169261009104429724.htm