Nuôi biển công nghệ cao để tạo động lực tăng trưởng mới

Giảm khai thác, đẩy mạnh nuôi biển công nghệ cao, phát triển theo chuỗi và gắn với bảo vệ hệ sinh thái là hướng đi quan trọng để thủy sản trở thành động lực của kinh tế biển xanh, bền vững.

Ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Trong bối cảnh nguồn lợi tự nhiên đang chịu sức ép ngày càng lớn, định hướng giảm khai thác, đẩy mạnh nuôi biển, nhất là nuôi biển công nghệ cao theo chuỗi giá trị đang mở ra hướng phát triển mới.

Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam về giải pháp phát triển thủy sản theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Phóng viên: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra những yêu cầu mới như thế nào đối với phát triển thủy sản, đặc biệt là nuôi biển, trong mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, thưa ông?

Ông Phùng Đức Tiến: Nghị quyết số 20-NQ/TW rất toàn diện, với các mục tiêu và giải pháp cụ thể đối với nhiều lĩnh vực như du lịch, dầu khí, điện gió, khai thác và nuôi biển.

Đối với thủy sản, định hướng rất rõ là giảm khai thác, tăng nuôi trồng. Đây là xu hướng phù hợp với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi và phục hồi hệ sinh thái biển.

Thủy sản hiện chiếm khoảng 27-28% giá trị toàn ngành nông nghiệp. Năm 2025, sản lượng thủy sản đạt 9,95 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD.

Trong 8 tháng năm 2026, sản lượng đạt 6,95 triệu tấn, trong đó khai thác khoảng 2,7 triệu tấn, chỉ tăng 0,7%, còn nuôi trồng đạt 4,2 triệu tấn, tăng 6%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%.

Những con số này cho thấy dư địa tăng trưởng của thủy sản trong thời gian tới nằm nhiều ở nuôi trồng, trong đó nuôi biển là một trong những điểm nhấn quan trọng.

Nghị quyết số 20-NQ/TW cũng đặt mục tiêu giá trị nuôi biển tăng bình quân 8%/năm. Đây là mục tiêu có cơ sở.

Năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đến năm 2025, sản lượng nuôi biển đạt khoảng 860.000 tấn, cao hơn mục tiêu 850.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn đạt khoảng 8,4%.

Hiện kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nuôi biển đạt khoảng 1,3 tỷ USD, trong đó tôm hùm khoảng 845 triệu USD, nhuyễn thể hai mảnh vỏ khoảng 264 triệu USD và cá biển trên 100 triệu USD.

Mục tiêu đến năm 2030 là sản lượng nuôi biển đạt khoảng 1,45 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,8-2 tỷ USD. Vì vậy, bài toán đặt ra là phải tiếp tục nâng tốc độ tăng trưởng, đồng thời nâng tỷ trọng và giá trị gia tăng của nuôi biển.

Phóng viên: Để đạt mục tiêu đó, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất của nuôi biển hiện nay và cần thay đổi như thế nào để chuyển sang nuôi biển công nghệ cao, xa bờ?

Ông Phùng Đức Tiến: Nuôi biển đang phát triển nhanh nhưng còn nhiều điểm nghẽn. Trước hết là việc giao mặt nước biển còn phức tạp, giá thuê mặt nước cao.

Công nghệ lồng nuôi đã từng bước được nâng lên, trong đó có tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với vật liệu HDPE, nhưng chủ yếu vẫn là nuôi gần bờ.

Muốn vươn ra xa bờ phải có công nghệ hiện đại, quy trình khép kín và khả năng kiểm soát tốt hơn về môi trường, dịch bệnh.

Nếu phát triển theo phương thức hiện nay mà không thay đổi công nghệ, nguy cơ ô nhiễm và dịch bệnh sẽ rất lớn. Vì vậy, lồng nuôi, phương pháp nuôi, tàu phục vụ nuôi và thu hoạch đều phải hiện đại.

Đặc biệt, phải chủ động nguồn giống. Hiện một số đối tượng vẫn phụ thuộc vào nguồn giống trôi nổi, nhập khẩu, chưa bảo đảm đầy đủ về nguồn gốc.

Thức ăn cũng là vấn đề cần quan tâm. Mỗi năm ngành sử dụng khoảng 5,96 triệu tấn thức ăn thủy sản, trong đó nguyên liệu nhập khẩu còn rất lớn.

Muốn phát triển bền vững, phải từng bước chủ động nguồn nguyên liệu, nâng chất lượng dinh dưỡng và giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài.

Một điểm nghẽn khác là hạ tầng. Hạ tầng phục vụ nuôi biển hiện gần như chưa đáp ứng yêu cầu.

Muốn nuôi xa bờ, doanh nghiệp không chỉ cần mặt nước mà còn cần hệ thống hạ tầng trên bờ để neo đậu, lưu trú, cung ứng vật tư, bảo quản, sơ chế và chế biến sản phẩm.

Nếu doanh nghiệp đầu tư cách bờ hàng chục kilômét nhưng không có quỹ đất và hạ tầng trên bờ thì rất khó hình thành chuỗi sản xuất ổn định.

Do đó, phát triển nuôi biển công nghệ cao phải đồng thời giải quyết các vấn đề về hạ tầng, cơ chế chính sách, khoa học công nghệ, vốn, doanh nghiệp, nguồn nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế.

Nuôi biển ở Khánh Hòa. Ảnh: Đặng Tuấn/Bnews/vnanet.vn

Nuôi biển ở Khánh Hòa. Ảnh: Đặng Tuấn/Bnews/vnanet.vn

Phóng viên: Theo ông, cần làm gì để hình thành các chuỗi nuôi biển quy mô lớn, hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao và đủ sức cạnh tranh quốc tế?

Ông Phùng Đức Tiến: Việt Nam có lợi thế rất lớn với hơn 3.260 km bờ biển và hơn 1 triệu km² mặt nước biển. Muốn phát huy lợi thế này, phải có những tập đoàn, doanh nghiệp lớn đầu tư nuôi biển xa bờ, nuôi công nghệ cao, theo chuỗi và theo từng đối tượng nuôi.

Khi doanh nghiệp lớn tham gia sẽ tạo ra cả hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ: sản xuất lưới, phao, thiết bị, tàu cho ăn, tàu thu hoạch, sơ chế, chế biến... Từ đó hình thành chuỗi khép kín, thay vì sản xuất manh mún như hiện nay.

Có thể tham khảo mô hình của Na Uy, nơi nuôi biển được tổ chức thành một chuỗi từ sản xuất, thu hoạch, phân loại đến chế biến.

Khi thu hoạch, sản phẩm được phân loại ngay theo kích cỡ, loại phù hợp được đưa vào chế biến, những sản phẩm khác được sử dụng cho các mục đích khác. Cách tổ chức này giúp giảm thất thoát, kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm.

Để làm được như vậy, chính sách tín dụng cũng phải thay đổi. Nông nghiệp nói chung và nuôi biển nói riêng chịu tác động lớn của mùa vụ, dịch bệnh và thị trường, nên cần có nguồn vốn phù hợp.

Hội Thủy sản Việt Nam sẽ làm việc với Ngân hàng Nhà nước về việc tạo điều kiện tín dụng cho các đối tượng nuôi biển. Hiện một số ngân hàng đã cho vay nhưng quy mô còn hạn chế.

Cùng với vốn là hoàn thiện cơ sở pháp lý. Các quy định liên quan đến thủy sản, giao và sử dụng mặt nước biển, đầu tư, nuôi trồng, con giống, thu hoạch, sơ chế, chế biến cần được rà soát, tháo gỡ những điểm còn vướng để tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn.

Hợp tác quốc tế cũng rất quan trọng, nhất là đối với con giống. Chẳng hạn, với tôm hùm, Việt Nam cần tăng cường hợp tác với các nước có nguồn giống; trong đó có Indonesia để chủ động nguồn cung và phát triển nuôi theo hướng ổn định, bền vững.

Phóng viên: Nuôi biển phải trở thành một động lực của kinh tế biển xanh, nhưng đồng thời phải giảm áp lực lên hệ sinh thái. Theo ông, cần giải quyết bài toán này như thế nào?

Ông Phùng Đức Tiến: Phát triển kinh tế biển không thể tách rời phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái. Đối với thủy sản, trước hết phải giảm cường lực khai thác, giảm đội tàu và chuyển đổi nghề cho ngư dân.

Điều tra cho thấy trữ lượng có thể khai thác khoảng 3,95 triệu tấn, trong khi sản lượng khai thác hiện vẫn ở mức cao. Nếu tiếp tục khai thác quá mức thì nguồn lợi sẽ suy giảm, hệ sinh thái bị tổn thương và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế lâu dài của ngư dân.

Do đó, đội tàu phải được quy hoạch lại, phân bổ hợp lý giữa khu vực gần bờ, vùng đệm và vùng khơi; đồng thời hiện đại hóa đội tàu, giảm số lượng tàu nhỏ, phát triển tàu khai thác xa bờ gắn với bảo quản và chế biến ngay trên tàu.

Song song với đó phải đẩy mạnh chuyển đổi nghề và phát triển các khu bảo tồn biển để phục hồi nguồn lợi.

Các khu bảo tồn không thể chỉ được xác lập trên giấy mà phải có đầu tư và cơ chế quản lý phù hợp. Mô hình đồng quản lý cần được phát triển để người dân vừa thấy rõ quyền lợi, vừa có trách nhiệm bảo vệ nguồn lợi và hệ sinh thái.

Quy hoạch không gian biển cũng phải đủ rõ để phân định các khu vực dành cho điện gió, dầu khí, du lịch, cảng biển, đóng tàu, nuôi biển và khai thác thủy sản, qua đó hạn chế xung đột và tạo không gian phát triển ổn định, lâu dài.

Tôi cho rằng, mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là tăng sản lượng nuôi biển hay tăng kim ngạch xuất khẩu, mà phải hình thành một ngành thủy sản hiện đại, công nghệ cao, xanh và có khả năng phát triển bền vững.

Khi giảm được áp lực khai thác, phục hồi hệ sinh thái, phát triển nuôi biển xa bờ theo chuỗi và ứng dụng công nghệ, chúng ta vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa nâng cao giá trị kinh tế từ biển.

Đó chính là cách để thủy sản đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bích Hồng (Thực hiện)/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nuoi-bien-cong-nghe-cao-de-tao-dong-luc-tang-truong-moi/436870.html