Nuôi cá chình tuần hoàn: Hướng đi mới cho vùng khô hạn

Tận dụng diện tích sẵn có, tiết kiệm nguồn nước và kiểm soát tốt môi trường nuôi, mô hình nuôi cá chình bông, chình mun theo hệ thống tuần hoàn của ông Nguyễn Quang Trang, xã Tân Thành, tỉnh Lâm Đồng, đang cho thấy hiệu quả kinh tế cao, mở ra hướng đi mới trong phát triển thủy sản nước ngọt tại địa phương.

Bể nuôi cá chình thương phẩm của ông Nguyễn Quang Trang

Bể nuôi cá chình thương phẩm của ông Nguyễn Quang Trang

Xã Tân Thành là địa phương ven biển của tỉnh Lâm Đồng, nằm trong khu vực có điều kiện khí hậu khô hạn và mùa khô kéo dài. Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn lâu nay chủ yếu tập trung vào các đối tượng nước mặn, nước lợ, trong đó con tôm là đối tượng nuôi chủ lực. Trong khi đó, việc nuôi thủy sản nước ngọt gặp không ít khó khăn do phần lớn diện tích đất mang đặc điểm đất cát, còn nguồn nước phục vụ sản xuất phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước ngầm. Trong điều kiện đó, bài toán tiết kiệm nước và duy trì chất lượng môi trường luôn được xem là yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất. Cùng với những biến động về giá cả, dịch bệnh và nguồn nước ngày càng khan hiếm, việc ứng dụng công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất và lựa chọn đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Từ thực tế này, một số hộ dân trên địa bàn xã Tân Thành đã mạnh dạn đưa cá chình bông, chình mun vào nuôi theo hệ thống tuần hoàn, bước đầu mang lại những kết quả đáng ghi nhận, khẳng định khả năng thích nghi tốt với điều kiện địa phương.

Gia đình ông Nguyễn Quang Trang là một trong những hộ tiên phong thực hiện mô hình này. Trước đây, ông Trang từng nuôi ếch và lươn thương phẩm. Mặc dù đây là những đối tượng tương đối dễ chăm sóc và có thời gian nuôi ngắn, hiệu quả kinh tế lại không ổn định, khiến gia đình ông có thời điểm thường xuyên đối mặt với thua lỗ. Trước yêu cầu phải thay đổi phương thức sản xuất, ông Trang bắt đầu tìm kiếm những đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao và phù hợp với điều kiện thực tế.

Năm 2024, ông quyết định thử nghiệm nuôi cá chình bông, chình mun, sau đó từng bước đầu tư và hoàn thiện hệ thống nuôi tuần hoàn. Trên diện tích khoảng 1.000 m², ông tận dụng các bể xi măng từng dùng để nuôi lươn, đồng thời đầu tư xây dựng thêm các bể lót bạt để ương cá bột. Nhận thấy cá chình giống trên thị trường chủ yếu khai thác từ tự nhiên, việc sản xuất giống nhân tạo còn nhiều khó khăn, ông quyết định nhập trực tiếp cá bột từ Philippines và Indonesia về nuôi dưỡng. Bên cạnh khu vực ương giống, gia đình ông còn xây dựng các bể lót bạt kích thước lớn để nuôi cá thương phẩm, hệ thống được đầu tư đồng bộ với các công đoạn lọc cơ học, lọc sinh học và sục khí liên tục.

Điểm nổi bật nhất của mô hình là khả năng tái sử dụng nguồn nước. Thay vì thường xuyên thay nước mới, nguồn nước từ bể nuôi được thu gom, xử lý qua nhiều công đoạn rồi tuần hoàn đưa trở lại bể. Cụ thể, nước thải từ bể nuôi được dẫn qua một kênh xử lý gồm nhiều lớp lưới mắt nhỏ bố trí theo hình zích zắc để giữ lại phân cá và thức ăn thừa. Sau đó, nước tiếp tục qua bồn lọc cơ học để loại bỏ triệt để các chất thải rắn còn sót lại trước khi chuyển sang các bể lọc sinh học được ông Trang tận dụng sáng tạo từ các thúng đi biển.

Tại đây, hệ thống sục khí duy trì liên tục tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật có lợi như vi khuẩn Bacillus và nhóm vi khuẩn Nitro phát triển, chuyển hóa các hợp chất độc hại như amoniac thành các dạng ít độc hơn như nitrat. Sau các công đoạn xử lý và kiểm tra thông số kỹ thuật, nước được cấp trở lại bể nuôi. Nhờ quy trình khép kín này, hệ thống gần như không phải xả thải hay thay nước hoàn toàn, mà chỉ bổ sung một lượng nhỏ để bù vào phần hao hụt do vận hành và bốc hơi. Giải pháp này đặc biệt phù hợp với vùng đất khô hạn Tân Thành, giúp tiết kiệm tối đa nguồn nước ngọt, giảm lượng nước thải ra môi trường và ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài.

Mô hình không chỉ giải quyết bài toán về nguồn nước mà còn mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người nuôi. Đối với cá chình giống, thời gian từ lúc nhập cá bột đến khi xuất bán kéo dài từ 20 ngày trở lên, cá đạt kích cỡ từ 1.500 đến 3.000 con mỗi kg với tỷ lệ sống khoảng 60%. Giá bán dao động từ 6.000 đến 8.000 đồng mỗi con, mang lại sản lượng xuất bán bình quân 3.000 đến 5.000 con giống mỗi tháng, trong khi chi phí sản xuất chiếm khoảng 50 đến 60%. Đối với cá chình thương phẩm, gia đình nuôi tại 5 bể với thể tích khoảng 20 mét khối mỗi bể, thả nuôi khoảng 2.000 con giống mỗi bể với trọng lượng ban đầu khoảng 100 gam mỗi con. Thời gian nuôi kéo dài từ 1 đến hơn 2 năm, tỷ lệ sống đạt trên 85%, trọng lượng khi thu hoạch đạt từ 1,2 đến 2 kg mỗi con, và sản lượng mỗi vụ ước đạt khoảng 2.000 kg. Với giá bán dao động từ 300.000 đến 500.000 đồng mỗi kg tùy thời điểm, doanh thu mỗi vụ đạt trên 600 triệu đồng, đem lại lợi nhuận ròng hơn 300 triệu đồng mỗi vụ.

Thành công từ mô hình của gia đình ông Nguyễn Quang Trang cho thấy, nuôi cá chình tuần hoàn là hướng đi hoàn toàn khả thi tại các vùng đất khô hạn. Việc chủ động cải tiến cơ sở vật chất sẵn có kết hợp ứng dụng công nghệ lọc nước tiên tiến giúp người nuôi kiểm soát tốt dịch bệnh, tối ưu hóa diện tích và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, để mô hình có thể nhân rộng trong tương lai, người nuôi vẫn cần sự đồng hành của các cơ quan chức năng trong việc hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng nguồn giống chất lượng cao, hoàn thiện quy trình phòng trị bệnh cũng như xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm bền vững.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khan hiếm nguồn nước ngọt ngày càng hiện hữu, mô hình này xứng đáng được quan tâm, đánh giá và định hướng nhân rộng nhằm nâng cao thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường./.

Ngọc Sơn (t/h)

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/nuoi-ca-chinh-tuan-hoan-huong-di-moi-cho-vung-kho-han-16844.html