Ổn định thị trường vật liệu xây dựng

Giá vật liệu xây dựng biến động đang tạo áp lực lên hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và tiến độ nhiều công trình tại Thái Nguyên. Chi phí nhiên liệu, nhân công tăng, nguồn cung và sức tiêu thụ gặp khó, trong khi chênh lệch giữa giá thực tế với đơn giá dự toán ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi công.

Ổn định nguồn cung, kiểm soát giá và kịp thời tháo gỡ vướng mắc là yêu cầu đặt ra nhằm duy trì hoạt động của doanh nghiệp, bảo đảm tiến độ các công trình, dự án.

Giá nhiên liệu và nhân công tăng đang làm gia tăng áp lực chi phí trong hoạt động khai thác tại mỏ đá Núi Chuông (xã Phú Lương).

Giá nhiên liệu và nhân công tăng đang làm gia tăng áp lực chi phí trong hoạt động khai thác tại mỏ đá Núi Chuông (xã Phú Lương).

Chi phí đầu vào tạo áp lực kép

Tại mỏ đá Núi Chuông (xã Phú Lương), thuộc Chi nhánh Công ty CP Khai khoáng miền núi, ông Tạ Tuấn Khải, Giám đốc chi nhánh, cho biết: Đơn vị có trữ lượng đá khoảng 16,4 triệu m3, công suất được nâng lên 698.000m3/năm từ tháng 12-2025. Đây là nguồn cung có quy mô đáng kể, đáp ứng nhu cầu đá xây dựng trên địa bàn. Tuy nhiên, việc duy trì sản xuất trong điều kiện chi phí đầu vào tăng đang đặt ra nhiều khó khăn.

Theo ông Khải, giá dầu và chi phí nhân công là hai yếu tố gây áp lực lớn. Hoạt động khai thác đá phụ thuộc nhiều vào máy móc, thiết bị và phương tiện vận chuyển, vì vậy mỗi lần giá nhiên liệu tăng đều tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất trên từng mét khối đá.

Bên cạnh đó, công tác tuyển dụng lao động khai thác ngày càng khó khăn. Mức tiền công mà người lao động yêu cầu có thể lên tới 1,5 triệu đồng/ngày nhưng doanh nghiệp vẫn khó tìm người.

Trong khi đó, lực lượng công nhân khai thác hiện có 12 người, chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực dự kiến khoảng 22-23 người để bảo đảm công suất. Thiếu lao động khiến doanh nghiệp phải tính toán lại phương án tổ chức sản xuất, đồng thời đối mặt với nguy cơ không khai thác hết năng lực thiết kế.

Dự án nhà ở xã hội Túc Duyên do Công ty CP Homever làm chủ đầu tư duy trì thi công, phấn đấu bảo đảm tiến độ dù chi phí vật liệu tăng cao.

Dự án nhà ở xã hội Túc Duyên do Công ty CP Homever làm chủ đầu tư duy trì thi công, phấn đấu bảo đảm tiến độ dù chi phí vật liệu tăng cao.

Trước sức ép này, doanh nghiệp dự kiến đầu tư thêm thiết bị hiện đại, trong đó có máy khoan tự hành nhằm giảm phụ thuộc vào lao động trực tiếp, nâng cao năng suất và tiết kiệm chi phí.

Việc điều chỉnh giá bán cũng được tính đến để bù đắp một phần chi phí nhiên liệu, nhân công tăng. Tuy nhiên, giá bán không thể tăng tùy ý mà còn phụ thuộc vào mặt bằng chung của thị trường và khả năng chấp nhận của khách hàng.

Thực tế, doanh nghiệp khai thác đang phải cân đối giữa hai sức ép. Nếu không điều chỉnh giá, hiệu quả sản xuất suy giảm; ngược lại, nếu tăng giá quá cao, sức mua có thể giảm dẫn tới hàng tồn kho tăng.

Bài toán đặt ra không chỉ là xác định mức giá bán phù hợp mà còn phải kiểm soát chi phí và duy trì đầu ra ổn định. Khó khăn tương tự cũng diễn ra tại mỏ cát kết Phúc Thuận của Công ty TNHH Hằng Ngọc Tú.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thự, người phụ trách mỏ, đơn vị có trữ lượng khoảng 631.000m3, công suất khai thác 21.000m3/năm, thời hạn khai thác đến năm 2035. Doanh nghiệp đã làm thủ tục nâng công suất trong khoảng ba năm nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất.

Chi phí nhiên liệu, nhân công tăng khiến giá thành khai thác cát kết chịu thêm sức ép. Trong khi đó, giá bán cao làm lượng tiêu thụ chậm lại. Một số hộ dân có nhu cầu xây dựng nhà ở phải tạm dừng hoặc hoãn kế hoạch do không cân đối được kinh phí. Đối với doanh nghiệp, sản phẩm khó tiêu thụ hơn, nguồn thu chậm về trong khi các khoản chi cho nhân công, máy móc và vận hành vẫn phải duy trì.

Hai trường hợp trên cho thấy khó khăn của các đơn vị sản xuất vật liệu không chỉ xuất phát từ giá nhiên liệu. 

Tình trạng thiếu lao động, vướng mắc trong thủ tục nâng công suất và sức mua suy giảm cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung ứng. Khi doanh nghiệp chưa thể tăng sản lượng tương ứng với nhu cầu, thị trường khó có thêm nguồn hàng để giảm áp lực giá.

Nhà thầu thi công càng làm càng khó

Nếu doanh nghiệp sản xuất vật liệu phải tìm cách cân đối chi phí và đầu ra thì doanh nghiệp xây dựng chịu tác động trực tiếp từ chênh lệch giữa giá vật liệu thực tế với đơn giá trong dự toán, hợp đồng đã ký.

Trong năm 2026, giá dầu diesel tại Thái Nguyên có thời điểm vượt 44.000 đồng/lít, sau đó giảm còn hơn 30.000 đồng/lít nhưng vẫn cao hơn khoảng 50% so với trước khi xảy ra xung đột ở Trung Đông.

Giá nhiên liệu biến động làm tăng chi phí khai thác, bốc xúc và vận chuyển vật liệu. Cùng với tình trạng thiếu nhân công, nhiều công trình đứng trước nguy cơ chậm tiến độ.

Giá bán tăng trong khi sức mua giảm khiến sản phẩm cát kết của Công ty TNHH Hằng Ngọc Tú tiêu thụ chậm.

Giá bán tăng trong khi sức mua giảm khiến sản phẩm cát kết của Công ty TNHH Hằng Ngọc Tú tiêu thụ chậm.

Ông Đào Hữu Huệ, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Hữu Huệ, cho biết: Doanh nghiệp vừa thi công công trình, vừa sản xuất bê tông nên chịu tác động trực tiếp khi giá cát, đá tăng. Giá cát doanh nghiệp phải mua có thời điểm lên tới 750.000 đồng/m3, tăng 100.000 đồng/m3; đá xây dựng ở mức 510.000 đồng/m3, tăng 90.000 đồng/m3. 

Mức tăng này tạo áp lực đáng kể đối với những công trình có khối lượng bê tông lớn. Chỉ cần giá nguyên liệu tăng thêm vài chục nghìn đồng mỗi mét khối, tổng chi phí đã có thể tăng mạnh khi nhân với hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn mét khối vật liệu sử dụng trong suốt quá trình thi công.

Khó khăn lớn hơn nằm ở những hợp đồng đã ký từ trước. Khi dự toán được lập theo mặt bằng giá cũ nhưng giá vật liệu, nhân công liên tục tăng, nhà thầu khó chủ động cân đối tài chính. Nếu hợp đồng không có điều khoản điều chỉnh phù hợp, phần chênh lệch chi phí có thể trực tiếp bào mòn lợi nhuận, thậm chí khiến doanh nghiệp thua lỗ.

Theo ông Hoàng Hữu Sơn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên, tình trạng đơn giá vật liệu, nhân công trong một số trường hợp thấp hơn giá thị trường khiến nhà thầu càng thi công càng khó khăn. Doanh nghiệp vẫn phải duy trì nhân lực, máy móc và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; nếu chậm tiến độ còn có nguy cơ bị xử phạt, ảnh hưởng đến uy tín và cơ hội tham gia các gói thầu tiếp theo.

Như vậy, giá vật liệu tăng không đơn thuần là câu chuyện mua bán trên thị trường mà còn có thể trở thành rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp thi công, nhất là những đơn vị thực hiện công trình theo hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng có cơ chế điều chỉnh giá hạn chế. Nếu không được xử lý kịp thời, khó khăn có thể lan từ nhà thầu đến chủ đầu tư, người lao động và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.

Cần giải pháp đồng bộ từ nguồn cung đến đơn giá

Theo báo cáo của Sở Xây dựng Thái Nguyên, đơn vị đã thực hiện công bố giá vật liệu, thiết bị xây dựng định kỳ, trong đó có giá hằng tháng. Đây là cơ sở để các cơ quan, tổ chức, chủ đầu tư và nhà thầu tham khảo khi lập, quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Tuy nhiên, trước diễn biến nhanh của thị trường, công tác công bố giá cần được gắn với hoạt động khảo sát thực tế tại từng khu vực, cập nhật kịp thời những mặt hàng có biến động lớn, đồng thời phản ánh sự khác biệt về cự ly vận chuyển, điều kiện khai thác và chất lượng vật liệu.

Việc công bố giá sát với mặt bằng giao dịch sẽ giúp các bên có căn cứ xác định chi phí, hạn chế tình trạng dự toán chênh lệch lớn so với giá thực tế.

Cùng với đó, cơ quan quản lý ngành xây dựng có thể phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường khảo sát, tổng hợp giá vật liệu, nhân công; kiểm tra việc kê khai, niêm yết giá, nguồn gốc hàng hóa và tình hình cung ứng.

Công tác hướng dẫn chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu rà soát hợp đồng, xác định điều kiện điều chỉnh giá theo quy định và loại hợp đồng đã ký cũng có ý nghĩa quan trọng.

Đối với những công trình có đủ căn cứ pháp lý, việc cập nhật đơn giá, điều chỉnh dự toán hoặc xử lý chênh lệch chi phí kịp thời sẽ giúp hạn chế những phát sinh ảnh hưởng đến quá trình thi công.

Giá vật liệu xây dựng tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó trong cân đối chi phí và duy trì tiến độ thi công.

Giá vật liệu xây dựng tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó trong cân đối chi phí và duy trì tiến độ thi công.

Ở khâu sản xuất, việc tháo gỡ thủ tục cho những mỏ đủ điều kiện nâng công suất sẽ mở thêm dư địa tăng nguồn cung, tạo điều kiện để doanh nghiệp khai thác đúng giấy phép, bảo đảm an toàn và các yêu cầu về môi trường.

Trường hợp mỏ cát kết Phúc Thuận đã làm thủ tục nâng công suất trong khoảng ba năm cho thấy việc rà soát từng khâu, xác định rõ nguyên nhân vướng mắc và giải quyết theo thẩm quyền là rất cần thiết, tránh kéo dài thời gian chờ đợi của doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, tiết kiệm nhiên liệu, tối ưu hoạt động vận tải và nâng cao năng suất lao động là những giải pháp thiết thực để giảm áp lực chi phí. Việc đầu tư máy khoan tự hành tại mỏ đá Núi Chuông là một hướng đi phù hợp, giúp giảm phụ thuộc vào nhân công trực tiếp, khắc phục một phần khó khăn về lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất lâu dài.

Đối với nhà thầu, việc lập dự toán sát diễn biến thị trường, tính toán đầy đủ chi phí vận chuyển, nhân công và chủ động thỏa thuận điều khoản điều chỉnh giá ngay từ khi ký hợp đồng sẽ hạn chế rủi ro khi giá vật liệu biến động.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ đầu tư và nhà thầu trong giải quyết các vấn đề về nguồn vật liệu, nghiệm thu, thanh toán cũng có ý nghĩa quan trọng, giúp tháo gỡ khó khăn phát sinh, duy trì tiến độ thi công.

Giá vật liệu xây dựng tăng cao đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ trong điều hành thị trường và tổ chức sản xuất, thi công. Việc khơi thông nguồn cung, công bố giá sát thực tế, xử lý kịp thời chênh lệch chi phí và hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp sản xuất, nhà thầu, chủ đầu tư và người dân sẽ tạo điều kiện ổn định thị trường, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, bảo đảm tiến độ công trình, dự án và duy trì động lực phát triển kinh tế của tỉnh.

Ngọc Quang

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/on-dinh-thi-truong-vat-lieu-xay-dung