Phân định rõ trách nhiệm quản lý trong vận hành trạm sạc xe điện
Bộ Công Thương quyết định phân định rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước của mỗi bộ, ngành liên quan đến việc vận hành trạm sạc xe điện.
Phân định rõ trách nhiệm trong quản lý, vận hành trạm sạc
Tại buổi họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công Thương diễn ra chiều 7/10, liên quan đến quy chuẩn về trụ sạc và trạm sạc xe điện, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân cho hay, tại Thông tư số 61/2026/TT-BCT, Bộ Công Thương đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện. Quy chuẩn hướng đến 5 mục tiêu chính: an toàn, tương thích, minh bạch cho người sử dụng và bảo vệ hệ thống điện, đồng thời hướng tới mục tiêu xa hơn là xây dựng một hệ thống sạc thông minh.
Trong đó, mục tiêu an toàn được ưu tiên, gồm an toàn về phòng cháy, chữa cháy; an toàn về điện; an toàn cho người dùng và an toàn cho phương tiện.

Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân thông tin tại buổi họp báo
Tiếp đó đến tính tương thích. Theo Phó Cục trưởng, các trạm sạc sẽ được quy định các tiêu chuẩn để hướng tới một hệ thống thống nhất. Quy chuẩn này cũng định hướng các hãng xe, trong đó có các hãng xe nước ngoài, phải đáp ứng một quy chuẩn nhất định để sau này chỉ cần có thêm quy định về yêu cầu kỹ thuật.
Liên quan đến câu hỏi tại sao không đưa trạm sạc vào trong các công trình xây dựng, đại diện Cục Công nghiệp cho biết, trong quá trình xây dựng quy chuẩn, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan, trong đó có Bộ Xây dựng.
Với Bộ Công Thương, các quy chuẩn tập trung vào trụ sạc. Trụ sạc là một bộ phận cấu thành của trạm sạc. Tất cả các trụ sạc trong công trình xây dựng bắt buộc phải tuân theo một quy chuẩn thống nhất.
Chính vì vậy, theo ông Phạm Văn Quân, khi trạm sạc được đặt trong các công trình xây dựng thì còn liên quan đến pháp luật về công trình xây dựng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy... Vì vậy, Bộ Công Thương phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi bộ, ngành liên quan trong quản lý và vận hành trạm sạc.
Nỗ lực gỡ khó cho sản xuất công nghiệp tại các địa phương
Cũng tại họp báo, trả lời câu hỏi của phóng viên các cơ quan báo chí về hoạt động sản xuất công nghiệp trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2026, đặc biệt là mức tăng không đồng đều giữa các địa phương trong cả nước, Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân cho biết, kết quả chung của sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 rất tích cực.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cả nước tăng 12,3%, đây là mức tăng 9 tháng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây; đà tăng mạnh dần lên, quý sau cao hơn quý trước (quý II tăng 11,2%, quý III tăng 14,8%); 34/34 địa phương đều tăng trưởng dương. Vì vậy, nhóm địa phương chưa đạt mục tiêu tăng trưởng về công nghiệp chưa kéo mức tăng chung xuống dưới các chỉ tiêu mà Chính phủ đề ra.
Thông tin cụ thể hơn, ông Phạm Văn Quân cho rằng, cần có một cái nhìn tích cực về chỉ số sản xuất công nghiệp. Bởi, kết quả sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 là xuất phát điểm tốt nhất từ năm 2019 đến nay cả về GDP và chỉ số sản xuất công nghiệp.
Nhìn từ khía cạnh công nghiệp, so với cùng kỳ năm 2025, tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ điện chỉ khoảng 4,9%, GDP đạt 8,02%. Năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp và tiêu thụ điện đã đạt 10,6%. Kết quả này cho thấy sản xuất công nghiệp đã thực chất và gắn với công nghiệp chế biến, chế tạo.
Liên quan đến mức tăng trưởng chưa đồng đều giữa các địa phương trong hoạt động sản xuất công nghiệp, Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân cho biết, sự phân hóa giữa các địa phương chủ yếu do khác biệt về cơ cấu ngành và năng lực sản xuất mới. Các địa phương tăng cao phần lớn là nơi có dự án lớn mới đi vào vận hành hoặc nâng công suất, đặc biệt là các dự án trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Trong khi đó, ở nhóm chưa đạt mục tiêu, Bộ Công Thương ghi nhận 3 nhóm vấn đề: một số địa phương có tỷ trọng lớn của khai khoáng, thủy điện... là các ngành phụ thuộc trữ lượng, điều kiện thủy văn và cấp phép khai thác – nên sản lượng tăng thấp; một số địa phương tập trung các ngành xuất khẩu thâm dụng lao động đang chịu sức ép từ các rào cản thương mại mới và chi phí logistics quốc tế tăng cao; một số trung tâm công nghiệp lớn đã sẵn có quy mô nền cao, đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nên tốc độ tăng chưa thể có đột phá ngay.
Bên cạnh đó, ở một số địa phương còn gặp khó khăn trong việc bố trí quỹ đất, mặt bằng và thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc đưa các dự án mới hoặc mở rộng tăng công suất vào vận hành còn chậm.
Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp cho biết, trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã tổ chức nhiều đoàn làm việc với các địa phương để thúc đẩy phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại trên địa bàn các địa phương. Kết quả từ các hoạt động này đã góp phần không nhỏ trong việc định hướng tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho phát triển công nghiệp nói riêng cũng như ngành Công Thương nói chung tại nhiều địa phương trọng điểm.
Trong thời gian tới, cùng với các chương trình làm việc với địa phương của Bộ Công Thương, Cục Công nghiệp sẽ tiếp tục đề xuất các giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp trong quý IV và các tháng còn lại của năm 2026.
Trong đó, tập trung vào việc hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương trong việc đẩy mạnh quy hoạch, xây dựng, bàn giao hạ tầng khu, cụm công nghiệp để bảo đảm quỹ đất và mặt bằng phục vụ sản xuất; thúc đẩy phát triển một số ngành có dư địa tăng trưởng tốt trong dịp cuối năm; kích cầu tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp trong nước; và đặc biệt là đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào vận hành tại các địa phương, tập trung vào các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo quan trọng có khả năng đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn.
9 tháng năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng. IIP tháng 9 tăng 16,65% so với cùng kỳ và tăng 3,26% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng tăng 12,33%, sát kịch bản 9 tháng (12,28%). Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính, tăng 12,93% (riêng tháng 9 tăng 17,12%).

