Phát triển khu công nghiệp xanh tại tỉnh Hưng Yên hướng đến mục tiêu bền vững
Những năm gần đây, Hưng Yên nổi lên như một điểm đến hàng đầu về thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp trọng điểm , nhờ hội tụ vị trí địa lý chiến lược, hạ tầng giao thông đồng bộ, quỹ đất lớn, phát triển theo xu hướng sản xuất xanh đáp ứng các tiêu chí đầu tư hiện đại. Phóng viên Tạp chí Kinh tế- Tài chính đã có cuộc trao đổi cởi mở với ông Vũ Quốc Nghị, Trưởng ban Quản lý các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Hưng Yên về thực tế và giải pháp phát triển KCN hiện nay tại Hưng Yên.

Ông Vũ Quốc Nghị, Trưởng ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên phát biểu tại Hội nghị tổng kết Khối thi đua các Ban Quản lý các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
PV: Thưa ông, được biết thời gian gần đây, làn sóng đầu tư nước ngoài (FDI) liên tiếp đổ về tỉnh Hưng Yên. Xin ông cho biết nguyên nhân nào giúp Hưng Yên trở thành điểm đến hàng đầu của các nhà đầu tư FDI?
Trưởng ban Vũ Quốc Nghị: Hưng Yên hội tụ đầy đủ điều kiện phát triển nhanh kinh tế - xã hội, nhất là công nghiệp công nghệ cao dựa trên nền tảng phát triển các khu công nghiệp (KCN) hiệu quả, bền vững. Là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, khu vực đang phát triển rất nhanh, năng động và đang trở thành trung tâm kinh tế, một động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam.
Trong những năm qua, Hưng Yên luôn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát; tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức cao so với bình quân của cả nước. Môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của Tỉnh được cải thiện nhanh cùng với đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân. Trong 4 năm 2021-2024, chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hưng Yên tăng 43 bậc. Năm 2024, chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh lên thứ 10/63 tỉnh, thành phố của cả nước.
Nhằm phát huy những lợi thế của Tỉnh, tạo môi trường thuận lợi để thu hút tốt các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước theo đúng quy hoạch, định hướng phát triển của tỉnh, Hưng Yên đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư thúc đẩy phát triển công nghiệp, trong đó phải kể đến Quyết định số 489/QĐ-TTg, ngày 10/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, mục tiêu đặt ra, đến năm 2030, Hưng Yên phát triển nhanh, bền vững, trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, phát triển bền vững theo xu hướng chuyển đổi xanh dựa trên phát triển nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh; xã hội phát triển hài hòa với thiên nhiên; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy…
Để đẩy nhanh việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, tiếp nhận dự án đầu tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, Hưng Yên đã tổ chức lập quy hoạch phát triển KCN tập trung trên địa bàn Tỉnh, quy hoạch phân khu xây dựng các KCN theo Quy hoạch tỉnh, hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp đồng bộ, trọng tâm là phát triển các KCN sinh thái, KCN công nghệ cao, hình thành cụm liên kết ngành và định hình hệ sinh thái sống hoàn chỉnh, làm cơ sở huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, tạo mặt bằng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hoàn chỉnh để sẵn sàng tiếp nhận các dự án đầu tư.

Nhà máy trong KCN Viglacera Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên
PV: Với vai trò quản lý nhà nước về KCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, ông có thể cho biết thực tế tình hình đầu tư, phát triển các KCN của Tỉnh hiện nay?
Trưởng ban Vũ Quốc Nghị: Hiện nay, các KCN trên địa bàn Tỉnh đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, ngày càng khẳng định vai trò nòng cốt trong thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển công nghiệp.
Trên địa bàn Tỉnh hiện có 43 KCN (nằm ngoài KKT), với diện tích hơn 13.526 ha; trong đó, 16 KCN đã được thành lập, đi vào hoạt động, tiếp nhận dự án đầu tư thứ cấp, với quy mô diện tích là 3.648,53 ha. Các KCN này đã tiếp nhận được trên 875 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 11 tỷ USD. Các dự án đầu tư tập trung vào các ngành nghề như: cơ khí, chế tạo; sản xuất linh kiện, thiết bị điện, điện tử, tin học, viễn thông, công nghệ thông tin; sản xuất kết hợp cho thuê nhà xưởng; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; dự án xây dựng nhà xưởng cho thuê; dệt may; sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất kết cấu thép và các sản phẩm từ thép; sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô và xe có động cơ; sản xuất chế biến thức ăn chăn nuôi; dự án kho vận, logistic...
Để phát triển công nghiệp bền vững, tăng sức cạnh tranh, Tỉnh đã và đang tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp công nghệ cao, hiện đại, tiên tiến; nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Điển hình như: KCN số 01, KCN số 06, KCN Văn Nhuệ - Hoàng Hoa Thám đã được quy hoạch là KCN công nghệ cao; và trong thời gian tới, các KCN mới tiếp tục được quy hoạch là KCN công nghệ cao.
Bên cạnh đó, các KCN đã đi vào hoạt động cũng luôn được tỉnh Hưng Yên chú trọng thu hút các dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường như: KCN Thăng Long II, KCN Sạch, KCN số 05… Điển hình là KCN Sạch với quy mô sử dụng đất hơn 143 ha được khởi công xây dựng ngày 25/11/2022. KCN này được đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng bởi các nhà đầu tư: Tập đoàn Nhà đất Hàn Quốc, Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị TDH Ecoland, Tập đoàn phát triển Hạ tầng và Đô thị Hàn Quốc tại nước ngoài, Công ty xây dựng KBI, Ngân hàng Shinhan. Sau giai đoạn 1 là dự án KCN Sạch, giai đoạn 2 sẽ đi vào triển khai dự án “KCN Sạch xanh thông minh”, nhằm đáp ứng chính sách giảm thiểu carbon và sử dụng 100% năng lượng tái tạo trên toàn cầu. Dự án này khi hoàn thành dự kiến đạt tổng mức đầu tư lên tới 400 triệu USD, sản lượng hàng năm đạt 1,6 tỷ USD, tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động...
Nhìn chung, việc phát triển các KCN xanh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đóng góp tích cực vào quá trình phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN xanh trên địa bàn Tỉnh thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, như:
Các dự án vẫn sử dụng năng lượng “truyền thống”, một số dự án tiêu thụ năng lượng lớn (các dự án sản xuất phôi, thép...) và phát thải khí nhà kính lớn. Các doanh nghiệp này cần chuyển đổi sử dụng năng lượng truyền thống sang nguồn năng lượng tái tạo để đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn xanh đối với các sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU.
Số lượng doanh nghiệp trong KCN tự đầu tư hệ thống năng lượng mặt trời thay thế năng lượng truyền thống còn ít. Hiện có 15 doanh nghiệp sử dụng điện mặt trới áp mái để thay thế một phần năng lượng truyền thống, chưa đảm bảo khả năng cung cấp cho các doanh nghiệp khác liền kề hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong KCN.
Vấn đề thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường còn có những hạn chế nhất định. Do các KCN trên địa bàn Tỉnh trước đây tập trung quy hoạch KCN có tính chất đa ngành, các chủ đầu tư hạ tầng thực hiện đầu tư theo hình thức cuốn chiếu, nên việc kết nối hạ tầng các dự án và bố trí các dự án cùng nhóm ngành nghề có khả năng công sinh công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong KCN chưa chú trọng đến thực hiện kinh tế tuần hoàn, một số dự án trong các KCN thực hiện kinh tế tuần hoàn chủ yếu mang tính tự phát, tự tìm kiếm cơ hội liên kết và thực hiện các liên kết cộng sinh công nghiệp không chính thức, không có công bố và đăng ký với các cơ quan chức năng có liên quan.
Các KCN đã đi vào hoạt động trên địa bàn Tỉnh chủ yếu là các KCN đa ngành, quá trình đầu tư theo từng giai đoạn, nên việc bố trí các dự án đầu tư trong KCN chưa theo nhóm ngành, theo từng KCN, tiềm ẩn nguy cơ tác động chéo về môi trường, nhất là các nhóm ngành tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Một số dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, chưa đáp ứng được yêu cầu về phát triển KCN xanh, như: nhuộm, sơn, mạ, hóa chất, sản xuất chế biến thức ăn chăn nuôi.

Khu công nghiệp Phố Nối A, tỉnh Hưng Yên
PV: Để giải quyết hiệu quả những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển KCN xanh tại Hưng Yên, theo ông trong thời gian tới Tỉnh cần quan tâm tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào?
Trưởng ban Vũ Quốc Nghị: Trong định hướng giai đoạn đến năm 2030, tỉnh Hưng Yên tập trung phát triển KCN xanh gắn với chuyển đổi xanh, tăng cường sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, phát triển và tăng cường sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguồn gốc sinh học và năng lượng tái tạo (điện mặt trời, biomass), áp dụng công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường, tăng cường tái chế, tái sử dụng, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững, đảm bảo hài hòa lợi ích, kinh tế - xã hội, tăng cường bảo vệ môi trường, trên cơ sở khai thác tốt các lợi thế tiềm năng địa phương và phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
Để đạt được mục tiêu đó, trong thời gian tới, Hưng Yên cần thực hiện một số giải pháp sau:
Về Quy hoạch: Lựa chọn vị trí quy hoạch các KCN xanh đảm bảo thuận lợi cho sự phát triển. Khu vực bố trí phát triển các KCN xanh tập trung cần đảm bảo đáp ứng được các yếu tố, điều kiện như: kết nối giao thông thuận lợi, gần các nguồn tài nguyên, nguyên liệu sẵn có, đảm bảo có thể cung cấp đầy đủ các điều kiện thiết yếu (như: cung cấp điện, nước, thu gom, xử lý rác thải, nước thải, thu hút lao động, bố trí các dịch vụ phục vụ người lao động…); đồng thời, phải đảm bảo khai thác, sử dụng có hiệu quả về đất đai.
Phát triển các KCN xanh cần đảm bảo đồng bộ kết nối với không gian phát triển đô thị, hình thành một số KCN - đô thị - dịch vụ. Trên cơ sở các yêu cầu cần có đối với các KCN xanh và phù hợp với điều kiện địa hình thực tế của địa phương, tiếp tục phát huy lợi thế của các KCN cơ bản đã được hình thành, phát triển các mô hình đô thị công nghiệp sinh thái để tạo điều kiện cho mở rộng đô thị hóa tập trung, tạo cơ sở hạ tầng tối ưu cho phát triển các KCN hiện đại quy mô lớn. Bố trí dành quỹ đất với diện tích, vị trí thuận lợi kế cận các KCN tập trung để mở rộng diện tích KCN khi có nhu cầu.
Chú trọng quy hoạch và phát triển một số KCN công nghệ cao; thu hút các loại hình công nghiệp công nghệ cao, công nghệ điện tử, gắn với sự phát triển của các cuộc cách mạng về khoa học - công nghệ.
Về kỹ thuật: Các doanh nghiệp trong các KCN xanh, các chủ đầu tư hạ tầng các KCN xanh cần chú trọng trong công tác quy hoạch, đầu tư máy móc thiết bị triển khai dự án, đảm bảo khả năng xử lý nước thải, tái sử dụng nước thải, xử lý chất thải rắn. Xây dựng các mô hình trao đổi chất thải, chất thải rắn tại dự án hoặc trong KCN để tái sử dụng, hướng tới cộng sinh chất thải trong các doanh nghiệp, các KCN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn. Tăng cường trao đổi thông tin liên kết giữa các doanh nghiệp, hình thành các cơ hội cộng sinh công nghiệp giữa các doanh nghiệp.
Chú trọng ưu tiên thu hút các dự án đầu tư trong KCN đầu tư sản xuất năng lượng sạch cung cấp nội bộ cho KCN. Khuyến khích các doanh nghiệp trong các KCN đầu tư năng lượng sạch, năng lượng tái tạo thay thế năng lượng truyền thống, đặc biệt phát triển hệ thống điện mặt trời mái nhà, điện sinh khối; Tăng cường tái sử dụng và tái chế tài nguyên; Sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng; Áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn; Cải tiến công nghệ sản xuất, công nghệ tiết kiệm năng lượng trong vận hành, công nghệ xanh trong xử lý chất thải; Xây dựng hệ thống giám sát phát thải; Xây dựng lộ trình giảm phát thải.
Khuyến khích doanh nghiệp tham gia mua bán tín chỉ carbon; thúc đẩy các hoạt động giảm phát thải.
Về tuyên truyền, đào tạo tập huấn, nâng cao nhận thức: Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng về lợi ích của phát triển KCN xanh và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Tổ chức các sự kiện, hoạt động truyền thông về KCN xanh. Xây dựng và phát triển các mô hình KCN xanh kiểu mẫu để lan tỏa, nhân rộng.
Về thanh tra, kiểm tra, giám sát: Tăng cường công tác hậu kiểm nhằm kiểm soát chặt chẽ việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, mật độ cây xanh theo đúng quy hoạch được duyệt và thực hiện nghiêm việc đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung KCN theo quy định, đảm bảo khả năng thu gom và xử lý đối với các dự án đầu tư trong KCN, hướng tới phát triển các KCN xanh và bền vững.
Chú trọng giám sát các chủ đầu tư dự án trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng theo đúng quy hoạch tổng mặt bằng, giấy phép xây dựng đã được duyệt, đặc biệt, đảm bảo tỷ lệ trồng cây xanh trong khuôn viên dự án tối thiểu 20% theo quy chuẩn và thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường đối với dự án theo Giấy phép môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh những giải pháp nêu trên, cần có sự vào cuộc quyết liệt, kịp thời của các cấp, các ngành cũng như tăng cường nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong các KCN, cụ thể:
Thứ nhất: Cần nghiên cứu xây dựng và ban hành các quy định, tiêu chuẩn về KCN xanh; Ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào KCN xanh; Ban hành cơ chế, chính xách nhắm tăng cường hợp tác công - tư trong phát triển KCN xanh.
Thứ hai: Có cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh, chuyển đổi sang sản xuất sạch hơn, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn. Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho doanh nghiệp về KCN xanh. Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ ba: Tập trung đào tạo, tuyền truyền tới các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường đối với các KCN. Kết hợp với đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong KCN. Xử lý nghiêm các vi phạm về bảo vệ môi trường.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nhà máy trong KCN Viglacera Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên