Phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội: Động lực dẫn dắt Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng khẳng định 40 năm qua, đổi mới tư duy lý luận luôn đi trước một bước. Nhờ vậy đất nước ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng vững chắc để tự chủ chiến lược, tự hào, tự tin, tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã dành thời gian trao đổi với phóng viên về những kết quả nổi bật trong công tác nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 40 năm qua."
- Thưa Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, chúng ta đã đạt được những thành tựu nào trong phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới?
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng: Trước hết, cần phải nhấn mạnh, điểm khởi đầu của công cuộc đổi mới đất nước chính là sự đổi mới về nhận thức, tư duy lý luận, mà trước hết là nhận thức, tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trước sự sụp đổ của Liên Xô và tan rã của hệ thống chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xôviết, công tác lý luận đã cung cấp những luận cứ khoa học chắc chắn để khẳng định rằng, đây không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, mà chỉ là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, xơ cứng, xa dân, xa rời những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Marx-Lenin, nhất là những nguyên tắc lịch sử-cụ thể, nguyên tắc thực tiễn và sự thiếu thích ứng với những thay đổi thường xuyên của đời sống chính trị-xã hội. Đó còn là hệ quả của những sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, sự buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác chính trị-tư tưởng, công tác tổ chức, đặc biệt là công tác cán bộ của đảng cầm quyền trong quá trình cải tổ. Ngay từ thời điểm vô cùng khó khăn và cam go ấy, Đảng ta đã khẳng định rõ ràng rằng phải đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng ta cũng đã tuyên bố dứt khoát rằng, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc từ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và ở Việt Nam trước đổi mới; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, công tác lý luận đã đóng một vai trò rất quan trọng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011, hình thành từng bước và hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, với những nội dung cốt lõi, nổi bật sau đây:
Thứ nhất, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng mang các đặc trưng vừa thể hiện giá trị, bản sắc và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước; vừa mang những giá trị phổ quát, tiến bộ của nhân loại. Về mục tiêu, đó là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cần nhấn mạnh thêm là, trên quan điểm kế thừa và phát triển, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định hai mục tiêu 100 năm: Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV khẳng định lại hai mục tiêu này, với quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Về đặc trưng nổi bật, đó là: chủ nghĩa xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Thứ hai, mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tạo lập dựa trên ba trụ cột: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Sản xuất các mặt hàng xuất khẩu. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Thứ ba, đường lối và phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, kế thừa những nội dung của Cương lĩnh năm 2011, bổ sung, cập nhật theo tinh thần của Đại hội XIV là: xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Thứ tư, luôn nắm vững, quán triệt sâu sắc và xử lý tốt các mối quan hệ lớn phản ánh những vấn đề mang tính quy luật biện chứng trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đó là: quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.[1]
Đặc biệt, từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua, Đảng ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới; như dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới; là sự bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phù hợp với các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại; kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa, giá trị văn hóa và các thành tựu phát triển của nhân loại; là ngọn đuốc soi đường tiếp tục dẫn dắt chúng ta thực hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng chiến lược, lập nên những kỳ tích phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.”
- Thưa Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, những thành tựu lý luận đó tạo tiền đề gì cho việc dẫn dắt đất nước ta trong kỷ nguyên mới?
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng: Cần khẳng định rằng 40 năm qua, đổi mới tư duy lý luận luôn đi trước một bước, luận chứng nội dung, phương hướng, định hướng chiến lược cho các chủ trương, chính sách đổi mới trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị... Nhờ vậy, đất nước ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng vững chắc để tự chủ chiến lược, tự hào, tự tin, tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Từ tư duy kế hoạch hóa tập trung, đối lập kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đã góp phần làm sáng tỏ nhận thức rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, có nhiều mô hình được phát triển và thích ứng với nhiều hình thái kinh tế-xã hội khác nhau, dưới chủ nghĩa tư bản cũng như dưới chủ nghĩa xã hội; phát triển kinh tế thị trường tự nó không thể đi đến chủ nghĩa xã hội, nhưng để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dứt khoát phải phát triển kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự đột phá sáng tạo về lý luận của Đảng và là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Đánh giá sâu sắc nguyên nhân và hệ quả của tình trạng bị cô lập, cấm vận, đóng cửa, khép kín, Đảng ta đã đổi mới tư duy, lãnh đạo tiến trình mở cửa đất nước và đẩy mạnh hội nhập quốc tế; kế thừa và phát huy tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh để xây dựng hệ thống lý luận ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ mới làm cơ sở cho việc hoạch định, triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, quan trọng, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Bằng nhận thức đúng đắn, nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm từ những thành công, thất bại trong thực tiễn xây dựng các mô hình chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Đảng ta đã hoàn thiện cơ sở khoa học để chuyển đổi và lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực hành sáng tạo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời, đề ra cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với việc hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đồng bào dân tộc Mường (Thanh Hóa) tái hiện lễ hội Pôồn Pôông. (Ảnh: Vân Chi/TTXVN)
Công tác nghiên cứu lý luận của Đảng cũng đã góp phần hình thành chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng; xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới; lấy con người là trung tâm và là chủ thể của sự phát triển; làm cho văn hóa, con người trở thành nền tảng vững chắc, là mục tiêu, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực quan trọng để phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Kế thừa tư tưởng, nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc, phát triển đường lối chiến tranh nhân dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã xây dựng hệ thống lý luận về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, về chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự và tư duy tác chiến hiện đại trong tình hình mới, làm cơ sở cho chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; xây dựng thế trận lòng dân gắn chặt với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận đối ngoại nhân dân vững chắc.
Tại Đại hội XIV, việc xác lập lý luận về đường lối Đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng là quyết định rất hệ trọng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược xa rộng của Đảng ta. Điều đó khẳng định rằng, đổi mới là sự nghiệp sáng tạo mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa cực kỳ to lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, do nhân dân Việt Nam thực hiện; đường lối Đổi mới không chỉ là một tập hợp quan điểm, chủ trương, chính sách cho một giai đoạn phát triển, mà đã được nâng lên tầm cao lý luận, cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh cấu thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn dắt sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Những vấn đề lý luận quan trọng nào cần tiếp tục nghiên cứu trong tầm nhìn đến giữa thế kỷ 21, thưa ông?
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng: Trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện thật tốt một số nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sau đây:
Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung của nền “lý luận cách mạng Việt Nam."
Nghiên cứu sự vận dụng và bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ rõ những nội dung cần nhận thức, vận dụng đúng đắn hơn, những nội dung cần được bổ sung phù hợp với điều kiện cụ thể mới của đất nước và những thay đổi mang tính thời đại, không ngừng hoàn thiện nền tảng tư tưởng của Đảng, khẳng định vai trò tiên phong, cách mạng và năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.
Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; làm sâu sắc hơn các trụ cột, đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và việc giải quyết các mối quan hệ lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chú trọng tổng kết và làm sâu sắc hơn bài học về sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phải luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và bài học“dân là gốc”, nhân dân là trung tâm, chủ thể của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định đây là hai nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng.
Nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận-thực tiễn, những bài học kinh nghiệm lịch sử qua 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), hình thành hệ luận cứ toàn diện phục vụ cho việc xây dựng Cương lĩnh xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Chú trọng bổ sung lý luận, tổng kết thực tiễn về “mô hình phát triển Việt Nam."
Tăng cường tổng kết thực tiễn các mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng của các địa phương trong nước và các quốc gia trên thế giới, đúc rút những bài học kinh nghiệm, tìm ra những phương thức phát triển hiệu quả, sáng tạo và có tính khả thi cao trong kỷ nguyên số. Xây dựng hệ thống lý luận về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững, gồm các thể chế nền tảng, các thể chế đổi mới sáng tạo và các thể chế phát triển đột phá, vượt trội trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để đưa đất nước ta bắt kịp xu thế thời đại, thậm chí vượt trước trong một số lĩnh vực có lợi thế, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Làm sâu sắc hơn tư tưởng “lấy con người làm trung tâm,” chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân trên nguyên tắc phát triển bao trùm, bền vững, bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau, mọi người dân đều có cơ hội tham gia và thụ hưởng các thành quả của quá trình phát triển.

Ngôi nhà mới được hoàn thành từ chương trình 'xóa nhà tạm, nhà dột nát.' (Ảnh: Tạ Toàn/TTXVN)
Trên cơ sở đó, cần khẳng định và làm rõ hơn “mô hình phát triển Việt Nam” có bản sắc riêng, với những đặc trưng nổi bật: phát triển nhanh, bao trùm và bền vững, lấy con người làm trung tâm, vận hành trên nguyên tắc: “phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân” xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Kịp thời nắm bắt, phân tích thấu đáo những vấn đề mới của thế giới ngày nay.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển động nhanh, phức tạp và khó lường, cần tăng cường và nâng cao năng lực phân tích dự báo chiến lược. Công tác lý luận cần đi tiên phong trong nghiên cứu về những chuyển đổi mang tính thời đại; sự hình thành kỷ nguyên kinh tế mới dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; những xu thế lớn của thế giới trong nửa đầu thế kỷ 21; sự vận động đa chiều của cục diện toàn cầu; cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc và khả năng định hình một trật tự thế giới mới; mô hình xã hội tương lai của nhân loại cùng những tác động, biến đổi văn hóa-xã hội sâu rộng; sự khủng hoảng của các giá trị, các mô hình phát triển truyền thống và rút ra các bài học kinh nghiệm...
Đặc biệt, chú trọng nghiên cứu, chắt lọc các học thuyết, các tư tưởng phát triển hiện đại, các giá trị tinh hoa phát triển của phương Đông, kế thừa, kết hợp với các yếu tố tiến bộ của phương Tây, tiếp tục hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học và thực tiễn hiện nay, tiếp tục nghiên cứu, tổng kết nhận thức của thế giới về chủ nghĩa xã hội hiện thực thế kỷ XXI; tập trung tổng kết các mô hình chủ nghĩa xã hội tiêu biểu, nghiên cứu sâu các khuynh hướng chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa xã hội thị trường, chủ nghĩa xã hội sinh thái, chủ nghĩa xã hội công nghệ (trong so sánh với chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số)… góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Xây dựng hệ thống lý luận đặc sắc thể hiện tư duy đột phá và những chuyển đổi phát triển mang tính cách mạng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Làm rõ nội hàm, điều kiện và phương thức xây dựng lực lượng sản xuất mới, cung cấp luận cứ cho việc triển khai, thúc đẩy các chuyển đổi phát triển mang tính cách mạng của đất nước, như: đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực…Bổ sung, hoàn thiện lý luận về phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao, trọng tâm là những thể chế đột phá, vượt trội để giải phóng mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, không gian phát triển mới. Nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận-thực tiễn mới trong việc thực hiện chủ trương: văn hóa, con người là nền tảng, mục tiêu, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực quan trọng của sự phát triển; tập trung vào việc tiếp tục khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tin, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, cùng khát vọng sáng tạo và cống hiến của mỗi người dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện lý luận về quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi xã hội ở nước ta trong thời gian tới. Hình thành hệ thống lý luận toàn diện về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam để định hướng hoàn thiện mô hình tổng thể của hệ thống chính trị; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nhất là bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn các phương thức lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; đột phá về công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân; kiểm soát quyền lực, phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa”…
Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn mới để tiếp tục hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị phổ quát của thế giới và những giá trị đặc thù của Việt Nam; đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị quốc gia, quản trị phát triển; nâng cao hiệu quả phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thực hành dân chủ, kiểm soát quyền lực, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình…
Xây dựng hệ thống lý luận về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tình hình mới; phát triển lý luận quốc phòng, quân sự, an ninh và nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội làm cơ sở cho việc xây dựng lực lượng quân đội, lực lượng công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; hoàn thiện và triển khai đồng bộ các chiến lược quốc phòng, an ninh. Phát triển tư duy toàn diện, độc đáo về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về đối ngoại, thể hiện trường phái đối ngoại và ngoại giao đặc sắc của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, chiến lược và mềm dẻo, linh hoạt về sách lược để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
- Trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng./.
[1] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2021.












